CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ CỦA NƯỚC MÔNG CỔ 1.1 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của Mông Cổ trong giai đoạn từ năm 1986-1990 Từ đầu những năm 1990 hầu hết các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã thực hiện những cải cách kinh tế dựa theo thị trường. Khác với các nền kinh tế Đông Âu cũng đã có đi bước quá độ giống nhau, nền kinh tế Mông Cổ phần lớn là nông nghiệp chăn nuôi với khu vực quốc doanh còn nhỏ – một điều kiện ban đầu hết sức thuận lợi để quá độ được mau lẹ. Thực tế này xuất phát từ tỷ trọng thấp của công nghiệp trong nền kinh tế và từ vai trò chủ đạo của khu vực nông nghiệp và dịch vụ. Thực ra, ở Mông Cổ không có công nghiệp nặng.
Cho tới tận trước khi có các cuộc cải cách năm 1990, ngót một nửa công ăn việc làm trong ngành chế tạo được tập trung trong hai phần sử dụng nhiều lao động là dệt và chế biến thực phẩm. Theo só liệu thống kê chính thức, những năm 1980 nền kinh tế Mông Cổ phát triển rất nhanh, GDP bình quân năm tăng 6. Những năm 1986 tốc độ tăng trưởng đạt 9. Từ 1990, Mông Cổ thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, đa phương và không kiên kết.
Vào năm 1990, nhân dân Mông Cổ từ bỏ hệ thống kế hoạch hoá tập trung và mệnh lệnh quan liêu đơn thuần theo kiểu Liên Xô và đã chọn đi theo con đường dân chủ, đổi mới bằng cách thực hiện cải tổ chính trị bằng con đường của mình và thực hiện các biện pháp mang tính chất đường lối theo hướng thiết lập nền kinh tế thị trường. Quá trình chuyển biến từ nền kinh tế kế hoạch truyền thống sang nền kinh tế thị trường do khu vực tư nhân chiếm ưu thế đã tạo ra những cơ hội mới cho quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước Mông Cổ theo hướng thiết lập nền kinh tế thị trường là tất yếu. Năm 1991, Chính phủ Mông Cổ đã ban hành Luật tư nhân hoá để thực hiện tư nhân hoá các tài sản nhà nước theo nhiều giai đoạn, trừ việc tư nhân hoá nhà cửa. Tiếp đó, Mông Cổ ban hành Luật Công ty và Thành viên, theo đó các công ty nhà nước và tư nhân đều có quyền tham gia vào hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Mông Cổ cam kết sẽ đệ trình bản thông báo theo Điều XVII của GATT 1994 vào thời điểm gia nhập, khẳng định mọi luật lệ và qui định liên quan đến hoạt động thương mại của các xí nghiệp quốc doanh sé hoàn toàn phù hợp với các qui định của WTO [26]. Chính phủ nước Mông Cổ đã thực hiện chính sách tư nhân hoá tài sản các hợp tác xã, quốc doanh Nhà nước (2000 cơ sở sản xuất lớn chuyển sang vào tư nhân hoá, 92% ngành chăn nuôi đã được tư nhân hoá (theo thông tin năm 1999) 4 [12.5]: kết quả là số gia súc đã tăng lên từ 25.3 triệu năm 2000) , từng bước thả nổi giá cả hàng hoá, tự do hoá thương mại, thực hiện chính sách mở cửa thị trường với thế giới bên ngoài [21. Mặc dù cuộc cải cách của Mông Cổ trong thời kỳ 1986-1991 đã gây được ấn tượng rất tốt, nhưng chính phủ Mông Cổ thời ký đó đã không thành công trong việc ổn định tuyệt đối nền kinh tế. Trong giữa những năm 90, do quá trình tư nhân hóa các xí nghiệp quốc doanh nằm dưới sự kiểm soát của Chính phủ, tránh với nguyên tắc thị trường, kết quả là bị suy yếu của toàn bộ nền kinh tế, đa số xí nghiệp quốc doanh đóng cửa, năng suất nền kinh tế bị giảm xuống nhiều.
Do chính phủ Mông Cổ đã thực hiện tư nhân hoá các xí nghiệp quốc doanh bằng một cách chia thành những xí nghiệp doanh nghịêp có quy mô quá nhỏ thậm chí do trình độ công suất kỹ thuật công nghệ bị suy giảm, các sản phẩm Mông Cổ không thể cạnh tranh được trên thị trường thế giới về chất lượng. Trong thời gian này, nhiều ngân hàng thương mại bị phá sản, thất nghiệp tăng nhanh đạt khoảng 200 nghìn người. Bắt đầu từ giữa thập kỷ 90 nhịp độ phát triển kinh tế dần dần tăng lên là do nước Mông Cổ trong việc theo đuổi quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới thông qua việc tham gia từng bước vào hiệp định thương mại song phương khu vực và đa phương một cách tích cực có hiệu quả. Để thực hiện chính sách hội nhập kinh tế quốc tế thì việc tìm kiếm và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài và tăng cường hoạt động xuất khẩu hàng hoá để thu ngoại tệ là rất quan trọng.
Tóm lại, giống như với các nước thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, những khó khăn trong những năm cải cách thị trường ở thập niên 90, tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng cả về mặt chính trị và về mặt kinh tế xã hội đã đưa sự phát triển kinh tế Mông Cổ về khoảng cách tụt hậu khoảng 10 năm. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1990-1993 luôn là con số âm, sản xuất suy giảm cùng với lạm phát cao đã làm sức mua của dân cư giảm, làm tiền lương thực tế và thu nhập bình quân đầu người giảm đáng kể, môi trường kinh doanh không ổn định, và nền kinh tế vẫn còn phải đối phó với hàng loạt vấn đề nghiêm trọng trong thời gian trước mặt đó: sản xuất công nghiệp và nông nghiệp giảm nghiêm trọng, nợ nước ngoài cao, dự trữ ngoại tệ và vàng không đủ để nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu… Tình trạng khan hiếm ngoại tệ đã giảm sút nguồn lực cung cấp xăng dầu mà tác động tiêu cực đến lĩnh vực công nghiệp nhiệt điện và vận tải. Năm 1990 Mông Cổ là một trường hợp điển hình về một nước đang phát triển không ổn định kinh tế vĩ mô.1: Một số chỉ tiêu vĩ mô kinh tế Mông Cổ qua các năm 1980-2003 Năm 1980 1990 1997 1998 2000 2001 2002 2003 GDP thực tế, 8,7 13,52 83,26 81,75 1018,9 1115,6 1240,8 1461,2 tỷ tugrug, T GDP, triệu - - 1049,0 968,5 946,6 1016,4 1117,5 1274,5 USD GDP bình quân đầu người, nghìn - 5,1 362,5 351,1 426.89 T Tỷ lệ tăng 6,2 -2,5 4,0 3,5 1,06 1,05 4,0 5,57 trưỏng GDP,% Lạm phát, % - - 20,5 6,0 8,1 8,0 1,6 5,0 Xuất khẩu, 403 444,8 568,5 462,3 535,8 523,2 523,9 615,8 triệu USD Nhập khẩu, 548 1023,6 538,3 582,4 675,9 693,2 752,8 801,1 triệu USD Cán cân thương -145 -578,8 30,2 -120,1 -140,2 -169,9 -228,9 -185,2 mại, triệu USD Tỷ giá hối đoái (cuối năm) 1 đô 3,00 5,31 813,2 902,0 1097,0 1102,0 1125,0 1168,0 la Mỹ=Tugrug Dân số (nghìn 1,60 2,12 2311,3 2344,5 2390,5 2425,0 2459,0 2490,9 người) Nguồn: Tổng Cục Thống kê Mông Cổ 6 1.2 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của Mông Cổ trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay 1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1990-1996 Sau cuộc suy giảm kinh tế năm 1990, tốc độ tăng trưởng kinh tế bị suy yếu mạnh xuống đến -9,2% năm 1991, đến -9,5% năm 1992, chỉ đến giữa những năm 1990 tăng trưởng tăng một cách khiêm tốn vào năm 1994 đạt 2,3%, (GDP bình quân năm tăng 0,3%), tăng vọt trong năm 1995 (6,3%) là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 5 năm qua (xem bảng 1. Tuy nhien, đối với nước đã sang cơ chế thị trường và đang phát triển thì chỉ số như vậy là thấp .1: Tăng trưởng thực tế qua các năm, % (1990-2001) Nguồn: [45.2: Tăng trưởng thực tế qua các năm, 1984-2005 (%) T¨ng tr ëng thùc tÕ1984-2005, % 9.5 -10 1984 1987 1990 1993 1996 1999 2002 2005 Nguồn: Tổng Cục Thống kê (2005) 1.1 Tỷ lệ lạm phát Đứng trước một cuộc khủng hoảng kinh tế vĩ mô ngày càng tăng, đầu năm 1990 Chính phủ Mông Cổ đã quyết định tiến hành một chương trình ổn định hóa triệt để.
Những biện pháp ổn định hóa chính thống bao gồm việc Chính phủ phải in thêm tiền để hỗ trợ sản xuất, làm giá cả hàng hoá tăng vọt. Tuy nhiên, đến năm 1995, nỗ lực ổn định hoá đã tỏ ra không thành. Mức tăng giá gần đạt tới mức siêu lạm phát. Tỷ lệ lạm phát tiếp tục gia tăng trong suốt những năm 90, chỉ đến những năm cuối thập niên 90 siêu lạm phát được kiểm chế và đẩy lùi (năm 1992 lạm phát là 325,5%, thì năm 1995 là 53,1%, 1998 là 6,0%, năm 2005 là 9,5%) (xem bảng 1.
Lạm phát cao đã ảnh hưởng đến hoạt động ngoại thương, phá vỡ các mặt của đời sống kinh tế, làm giảm thu nhập thực tế của dân cư, làm môi trường kinh doanh không ổn định, mang tính rủi ro cao và gây áp lực làm giảm kim ngạch ngoại thương.2: Tỷ lệ lạm phát, % (1990-2005) Năm Tỷ lệ lạm phát, % 1990 * 1991 52,7 1992 325,5 1993 183,0 1994 66,3 1995 53,1 1996 44,6 1997 20,5 1998 6,0 1999 10,0 2000 8,1 2001 8,0 2002 1,6 2003 4,7 2004 11,0 2005 9,5 Nguồn: Tổng Cục Thống kê Mông Cổ 9 Hình 1.3: Tỷ lệ lạm phát hàng tháng, % (1990-2001) Nguồn: [45.4: Tỷ lệ lạm phát, % (1999-2005) 12 10 9.6 2 0 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Nguồn: Tổng Cục Thống kê Mông Cổ 1.2 Tỷ giá hối đoái Mông Cổ đã làm nên những đổi thay đáng kể trong một môi trường cực kỳ khó khăn. Với việc Liên Xô công bố giảm dần viện trợ bắt đầu từ năm 1989, chính phủ Mông Cổ đã phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng thậm chí còn lớn hơn. Việc giảm dần viện trợ của Liên Xô có nghĩa là nền kinh tế này sẽ phải xuất khẩu nhiều hơn để lấy tiền nhập khẩu những loại đầu vào thiết yếu. Phương án duy nhất là phải tìm ra những nguồn tài trợ mới từ bên ngoài.
10 Để xử lý cuộc khủng hoảng ngày càng gia tăng về cán cân thanh toán này, chính phủ đã thống nhất và phá giá tỷ giá hối đoái với khu vực có đồng tiền chuyển đổi tự do hồi đầu năm 1990, và cũng tự do hoá ngoại thương. Việc đồng Tugrug phá giá gây ra tình trạng mất ổn định trong nền kinh tế, thị trường tài chính, ngân hàng chao đảo, vốn đầu tư chạy khỏi Mông Cổ, nhiều công ty phá sản, nhập khẩu giảm, môi trường kinh doanh biến động và nhiều rủi ro. Tuy nhiên việc đồng Tugrug xuống giá cũng có mặt tích cực. Việc phá giá này thực sự là một hành động dũng cảm khi nhà chức trách thay đổi tỷ giá hối đoái chính thức để kịp theo mức tỷ giá song hành trên thị trường.
Nó rút ngắn được khoảng cách giữa tỷ giá ngân hàng và tỷ giá thực tế, làm cho tỷ giá T/USD gần với tỷ lệ lạm phát, khuyến khích xuất khẩu.