Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO 1. Cơ sở lý luận về tín dụng chính sách đối với công tác giảm nghèo 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của tín dụng chính sách 1. Khái niệm * Khái niệm tín dụng Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Trong quan hệ này, bên cho vay (ngân hàng) chỉ nhượng lại quyền sử dụng vốn cho bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp) trong một thời gian nhất định và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho bên cho vay vô điều kiện khi đến hạn đã thỏa thuận. * Khái niệm tín dụng chính sách: Tín dụng chính sách là việc Nhà nước tổ chức huy động các nguồn lực tài chính để cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác nhằm tạo việc làm, cải thiện đời sống, hạn chế tình trạng đói, nghèo. Vì đây là một loại tín dụng mang tính chính sách nên Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với người vay về cơ chế cho vay, cơ chế xử lý rủi ro, lãi suất cho vay, điều kiện, thủ tục vay vốn. Vì vậy, tại Điều 1, Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ đã khẳng định: Tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội.
Đặc điểm của tín dụng chính sách Một là, đây là kênh tín dụng không vì mục tiêu lợi nhuận: Mục tiêu của tín dụng chính sách là không vì mục tiêu lợi nhuận mà là nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo, ổn định kinh tế - chính trị và bảo đảm an sinh xã hội. Hai là, đối tượng vay vốn tín dụng chính sách xã hội là người nghèo và các đối tượng chính sách khác theo chỉ định của Chính phủ. Ba là, nguồn vốn để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là nguồn vốn của Nhà nước, tức là nguồn vốn từ Ngân sách và có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước. Bốn là, người nghèo và các đối tượng chính sách khác khi vay vốn được ưu đãi về lãi suất cho vay, điều kiện vay vốn (Hầu hết các chương trình cho vay không phải thế chấp tài sản), thủ tục cho vay và cách tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội.
Vai trò của tín dụng chính sách * Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội Vai trò cua tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Nhờ đó mà các chủ thể này có thể đẩy nhanh được tốc độ sản xuất cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm. Một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng không những thỏa mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguồn vốn cho các chủ thể kinh doanh. Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức tín dụng sẽ tạo chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh khi nó không phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có của bản thân.
Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao 7 hiệu lực sản xuất của xã hội Các nguồn vốn tín dụng được cung ứng luôn kèm theo các điều kiện tín dụng để hạn chế rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn đối nghịch, buộc người đi vay phải quan tâm thức sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo mối quan hệ lâu dài với các tổ chức cung ứng tín dụng. * Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của Nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Việc đảm bảo đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hòa phụ thuộc vào khối lượng và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời hạn cũng như đối tượng tín dụng. Vấn đề này, đến lượt nó, lại phụ thuộc vào các điều kiện tín dụng như lãi suất, điều kiện vay yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng được quy định trong chính sách tín dụng từng thời kỳ.
Như vậy thông qua việc thay đổi, điều chỉnh các điều kiện tín dụng, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế cả về quy mô cũng như kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dưới dạng tác động của chính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại với tổng cung và các điều kiện sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tông cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được các mục tiêu vĩ mô cần thiết. * Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội Các chính sách xã hội, về mặt bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài tợ không hoàn lại từ ngân sách nhà nước.Song phương thức tài trợ không hoàn lại thường bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu quả.
Để khắc phục hạn chế này, phương thức tài trợ không hoàn lại có xu hướng thay thế bởi phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng nhằm duy trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng chính sách. Thông qua phương thức tài trợ này, các mục tiêu của chính sách được đáp ứng một cách chủ động và hiệu quả hơn. 8 Khi các đối tượng chính sách buộc phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả đúng thời hạn thì kỹ năng lao động của họ được hoàn thiện từng bước. Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho sự ôn định tài chính của các đối tượng chính sách và từng bước làm cho họ có thể tồn tại độc lập với nguồn tài trợ.
Đó là mục đích của việc sử dụng phương thức tài trợ các mục tiêu chính sách bằng con đường tín dụng. - Phân loại các chương trình tín dụng đang thực hiện tại NHCSXH. Các chương trình tín dụng do NHCSXH thực hiện được chia làm hai loại: + Các chương trình tín dụng thực hiện ủy thác qua tổ chức CT-XH (1) Cho vay hộ nghèo. (2) Cho vay hộ cận nghèo.
(3) Cho vay hộ mới thoát nghèo. (4) Cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. (5) Cho vay giải quyết việc làm. (6) Cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn theo Quyết định 32/2007/QĐ-TTg và Quyết định 54/2012/QĐ-TTg.
(7) Cho vay hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn (8) Cho vay thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn. (9) Cho vay hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg. (10) Cho vay các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài. (11) Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
(12) Cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định 755/2013/ QĐ-TTg. + Các chương trình tín dụng thực hiện trực tiếp. Gồm có: Cho vay giải quyết việc làm đối tượng là các Hộ kinh doanh cá thể; Hợp tác xã hoạt động theo Luật Hợp tác xã; Doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động theo Luật doanh nghiệp; chủ trang trại; Trung tâm giáo dục Lao động - xã hội (gọi chung là cơ sở sản xuất kinh doanh). Hiệu quả của tín dụng chính sách 9 a.
Hiệu quả trong mối quan hệ nguyên tắc tín dụng Hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi: đây là nguyên tắc cơ bản xuyên suốt hoạt động tín dụng là tín dụng thương mại hay tín dụng ngân sách. Ngân hàng chính sách là một tổ chức tín dụng của nhà nước, nhằm tạo ra kênh tín dụng ưu đãi một phần lãi suất và các điều kiện tín dụng khác để hỗ trợ hộ nghèo và các đối tượng chính sách chứ không phải là một tổ chức tài trợ bao cấp. Ngân hàng thực hiện các chương trình tín dụng chính sách phải được tổ chức và hoạt động theo những chuẩn mực của một số tổ chức tín dụng có hiệu quả kinh tế xã hội, an toàn và phát triển đúng hướng, là tổ chức được Nhà nước giao quản lý vốn của nhà nước, phải có trách nhiệm bảo toàn vốn và thu lãi vay để trang trải một phần chi phí hoạt động theo quy định. Sử dụng vốn đúng mục đích: Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích theo từng chương trình tín dụng ưu đãi.
Ví dụ như chương trình cho vay học sinh sinh viên nghèo có hoàn cảnh khó khăn, tiền vay được sử dụng để nộp học phí, các chi phí học tập; cho vay xuất khẩu lao động dùng để chi trả lệ phí, tiền vé máy bay,…để lao động nước ngoài, hộ nghèo vay vốn dùng để sản xuất kinh doanh. Hiệu quả trong mối quan hệ rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là người đi vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ hẹn hoặc không thanh toán. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất về tài chính, tức là giam thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn.
Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản. Đối với ngân hàng chính sách, tín dụng là dịch vụ đem lại nguồn thu gần như duy nhất.