Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đói nghèo là một vấn đề kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu và là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo, thúc đẩy công bằng xã hội. Trong các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng chậm thoát nghèo ở khu vực nông thôn, việc thiếu vốn sản xuất kinh doanh và thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật là hai lực cản lớn nhất. Nhằm hỗ trợ người dân vượt qua rào cản này, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo, vận hành không vì mục tiêu lợi nhuận để cung ứng các nguồn vốn tín dụng ưu đãi phục vụ sản xuất và an sinh xã hội.

Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, công tác tín dụng chính sách đối với hộ nghèo vẫn bộc lộ một số tồn tại: quy mô vốn vay đôi khi chưa đáp ứng đủ chu kỳ sản xuất, việc sử dụng vốn tại một bộ phận hộ dân còn kém hiệu quả hoặc sai mục đích, làm suy giảm chất lượng tín dụng và ảnh hưởng đến tính bền vững của mục tiêu giảm nghèo. Xã Phúc Xuân là một xã trung du miền núi nằm ở phía Tây thành phố Thái Nguyên, giữ vị trí cửa ngõ của khu du lịch Hồ Núi Cốc. Dù địa phương đã hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới từ năm 2015, trên địa bàn vẫn còn các hộ nghèo và cận nghèo thiếu nguồn lực tài chính để mở rộng sản xuất nông nghiệp, cải tạo nương chè hoặc chuyển dịch sang làm ngành nghề dịch vụ. Trước bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nông Ngọc Thái tập trung giải quyết bài toán đánh giá toàn diện thực trạng giải ngân, hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng hoàn trả nợ của các hộ nghèo tại địa bàn xã Phúc Xuân.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định rõ ràng:

  • Mục tiêu chung: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ưu đãi của các hộ nghèo thông qua NHCSXH tại xã Phúc Xuân, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp giúp người nghèo tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và sử dụng vốn vay hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế hộ và thoát nghèo bền vững.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Phúc Xuân.
    2. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ưu đãi của các hộ nghèo trên địa bàn xã Phúc Xuân.
    3. Đề xuất giải pháp sử dụng hiệu quả vốn tín dụng ưu đãi góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống kinh tế - xã hội tại xã Phúc Xuân, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hộ nghèo, hộ cận nghèo vay vốn tín dụng ưu đãi từ NHCSXH trên địa bàn xã Phúc Xuân, TP. Thái Nguyên.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu và thực tập tại thực địa được triển khai từ tháng 02/2021 đến tháng 05/2021; số liệu thứ cấp của địa phương được thu thập trong giai đoạn 3 năm từ 2018 đến 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng nghiên cứu dựa trên các khái niệm học thuật và hệ thống văn bản pháp quy hiện hành:

  • Khái niệm nghèo đói và chuẩn nghèo đa chiều: Tiếp cận định nghĩa nghèo đói của Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP tổ chức tại Bangkok, 09/1993), phân định giữa nghèo tuyệt đối (thiếu hụt các nhu cầu sinh tồn tối thiểu như ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục) và nghèo tương đối (thiếu hụt nguồn lực so với mức sống chung của cộng đồng).
  • Căn cứ pháp lý áp dụng:
    • Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016–2020. Theo đó, chuẩn nghèo khu vực nông thôn là mức thu nhập bình quân đầu người từ 700.000 đồng/tháng trở xuống, hoặc trên 700.000 đồng/tháng nhưng thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường dịch vụ xã hội cơ bản trở lên (trong 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin; tương ứng 10 chỉ số thiếu hụt). Chuẩn hộ cận nghèo nông thôn có thu nhập trên 700.000 đến 1.000.000 đồng/tháng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số dịch vụ xã hội.
    • Thông tư số 21/2012/TT-BLĐTBXH hướng dẫn quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo hàng năm.
    • Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác; Quyết định số 525/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo (1995) và Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập NHCSXH.
    • Bảng biểu lãi suất của NHCSXH tại thời điểm nghiên cứu: Hộ nghèo (6,6%/năm), hộ nghèo tại 64 huyện theo Nghị quyết 30a (3,3%/năm), hộ cận nghèo (7,92%/năm), hộ mới thoát nghèo (8,25%/năm), học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn (6,6%/năm).
  • Cơ sở thực tiễn quốc tế và bài học kinh nghiệm: Khảo sát kinh nghiệm cho vay người nghèo của Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã Tín dụng Thái Lan (BAAC) — cơ chế cho vay không thế chấp dựa trên bảo lãnh nhóm đối với người có thu nhập dưới 1.000 Baht/năm, đi kèm quy định các ngân hàng thương mại phải trích 20% vốn huy động cho khu vực nông thôn; kinh nghiệm của Ngân hàng Nông nghiệp Malaysia (BPM) được Nhà nước cấp 100% vốn tự có và quy chế dự trữ ngân hàng bắt buộc nhằm phục vụ nông nghiệp - nông thôn. Đồng thời, khóa luận tham chiếu các kết quả nghiên cứu trong nước của Nguyễn Thị Xuân Hương (2018) tại Cần Thơ và ThS. Hà Thị Anh (2019) tại Thái Nguyên về các nhân tố kiểm soát nguồn vốn và trình độ học vấn của chủ hộ.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp điều tra toàn bộ: Tác giả tiến hành điều tra toàn bộ (census) 30 hộ nghèo và cận nghèo đang có dư nợ vay vốn tín dụng chính sách tại 8 xóm trên địa bàn xã Phúc Xuân (gồm xóm Cây Sy: 3 hộ, Cao Trãng: 3 hộ, Cây Thị: 3 hộ, Đồng Lạnh: 3 hộ, Nhà Thờ: 5 hộ...).
  • Phương pháp thu thập thông tin:
    • Thu thập tài liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê tình hình phát triển kinh tế - xã hội, báo cáo tổng kết sử dụng đất đai, trồng trọt, chăn nuôi từ UBND xã Phúc Xuân giai đoạn 2018–2020 và tài liệu lưu trữ từ cán bộ tín dụng địa phương.
    • Thu thập tài liệu sơ cấp: Kết hợp phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) quan sát điều kiện hạ tầng, sinh kế và phỏng vấn trực tiếp 30 chủ hộ thông qua bảng hỏi cấu trúc về thông tin nhân khẩu, hiện trạng đất đai, mức vay, mục đích giải ngân, biến động thu nhập và tình trạng trả nợ.
  • Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Áp dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT để làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của kinh tế địa phương; phương pháp chuyên gia lấy ý kiến cán bộ nông nghiệp và tín dụng; phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh; phần mềm Microsoft Excel được sử dụng để tổng hợp và xử lý dữ liệu định lượng.
  • Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu: Quy mô vốn vay, cơ cấu vay theo tổ chức hội, mục đích sử dụng vốn, tỷ lệ sử dụng vốn đúng mục đích, mức tăng thu nhập bình quân trước và sau khi vay, tỷ lệ hộ thoát nghèo và tỷ lệ hoàn trả nợ (đúng hạn, chưa đến hạn, quá hạn).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả xác lập tính cấp thiết của đề tài bắt nguồn từ vai trò của tín dụng ưu đãi trong việc tháo gỡ điểm nghẽn thiếu vốn sản xuất cho người nghèo. Phần này định vị rõ mục tiêu nghiên cứu tổng quát và 3 mục tiêu cụ thể, xác định không gian nghiên cứu tại xã Phúc Xuân, thời gian nghiên cứu thực địa từ tháng 02/2021 đến tháng 05/2021 cùng chuỗi số liệu thứ cấp 2018–2020. Tác giả cũng chỉ rõ ý nghĩa học thuật, giá trị thực tiễn và 3 đóng góp mới của đề tài trong việc lượng hóa hiệu quả đồng vốn đối với tỷ lệ thoát nghèo của địa phương.

Phần 2: Tổng quan (Cơ sở lý luận và thực tiễn)

Chương này hệ thống hóa các khái niệm về nghèo đói (ESCAP, nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối), bộ tiêu chí chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016–2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, bản chất không vì lợi nhuận và phương thức cho vay không thế chấp của tín dụng chính sách xã hội. Tác giả trình bày lịch sử hình thành NHCSXH từ Quỹ cho vay ưu đãi (1995) sang Ngân hàng Phục vụ người nghèo và chính thức thành lập NHCSXH năm 2002 theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg nhằm tách bạch tín dụng chính sách với tín dụng thương mại. Phần tổng quan cũng đúc kết kinh nghiệm vận hành tín dụng vi mô tại Thái Lan (BAAC), Malaysia (BPM) và lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả đối tượng khảo sát là 30 hộ nghèo và cận nghèo tại xã Phúc Xuân; phương pháp điều tra toàn bộ phân bổ theo 8 xóm của xã. Tác giả trình bày chi tiết quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp từ UBND xã giai đoạn 2018–2020 và sơ cấp thông qua bảng hỏi phỏng vấn trực tiếp. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu được thiết kế gắn liền với các công cụ phân tích thống kê so sánh, phương pháp ma trận SWOT và phần mềm Excel để lượng hóa hiệu quả kinh tế - xã hội.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đây là chương trọng tâm của khóa luận với các dữ liệu thực chứng chi tiết:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Phúc Xuân: Tổng diện tích tự nhiên là 1.836 ha (18,36 km²). Cơ cấu sử dụng đất năm 2020: đất nông nghiệp chiếm 77% (1.413 ha), đất phi nông nghiệp chiếm 18,13% (332,84 ha), đất chưa sử dụng chiếm 2,58% (47,34 ha), đất khu dân cư chiếm 2,53% (46,55 ha). Bình quân diện tích đất nông nghiệp đạt 0,91 ha/hộ. Sản xuất nông nghiệp duy trì ổn định với cây lúa (249 ha năm 2020, năng suất 55 tạ/ha), cây chè (309 ha, năng suất 159 tạ/ha, địa phương có 7 làng nghề chè truyền thống), cây ngô tăng từ 4,20 ha năm 2018 lên 8 ha năm 2020. Đàn trâu ổn định 256–300 con, đàn lợn đạt 2.150 con năm 2018 nhưng suy giảm mạnh các năm sau do dịch tả lợn châu Phi. Tổng giá trị sản xuất năm 2020 đạt 1.647,260 triệu đồng, tăng trưởng bị chững lại do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Sau sáp nhập, toàn xã có 8 xóm với 1.517 hộ, 100% trường học (3/3 trường) đạt chuẩn quốc gia.
  • Kết quả vay vốn thông qua các tổ chức hội năm 2020: Tổng số vốn vay ưu đãi giải ngân cho 30 hộ điều tra đạt 1.440 triệu đồng. Trong đó, Hội Nông dân quản lý 17 hộ với số vốn 850 triệu đồng (bình quân 50 triệu đồng/hộ); Hội Cựu chiến binh quản lý 10 hộ với số vốn 470 triệu đồng (bình quân 47 triệu đồng/hộ); Hội Phụ nữ quản lý 3 hộ với số vốn 120 triệu đồng (bình quân 40 triệu đồng/hộ).
  • Mục đích sử dụng vốn của hội viên: Vốn vay được rót vào 3 mục đích: sản xuất nông nghiệp chiếm 58% (850 triệu đồng, 17 hộ, chủ yếu san gạt đất trồng chè và chăn nuôi); giải quyết việc làm/ngành nghề dịch vụ chiếm 34% (500 triệu đồng, 10 hộ); mục đích khác (xây dựng bể nước sạch) chiếm 8% (120 triệu đồng, 3 hộ).
  • Đặc điểm nhân khẩu, đất đai và nhu cầu vốn của 30 hộ điều tra: Bình quân nhân khẩu đạt 2,87 người/hộ; bình quân lao động đạt 2 người/hộ; tỷ số phụ thuộc nhân khẩu/lao động là 1,43. Trình độ học vấn của chủ hộ gồm: tiểu học chiếm 23,3%, trung học cơ sở chiếm 33,3%, trung học phổ thông trở lên chiếm 43,4%. Về đất đai, tổng diện tích đất của 30 hộ là 36.981 m²; trong đó đất trồng cây lâu năm (chè) chiếm 51,48% (18.543 m²), đất chăn nuôi chiếm 10,44% (3.761 m²), đất lâm nghiệp chiếm 6,68% (2.405 m²), đất thủy sản chiếm 2,98% (1.075 m²). Về nhu cầu vốn, 29/30 hộ (97,7%) có nhu cầu vay trên 30 triệu đồng (mức giải ngân thực tế 50 triệu đồng/hộ), thời hạn vay 5 năm; duy nhất 1 hộ (3,33%) vay mức 20 triệu đồng.
  • Hiệu quả kinh tế: Thu nhập bình quân của các hộ đều gia tăng rõ rệt sau khi tiếp cận vốn vay. Nhóm hộ sử dụng vốn vào ngành nghề - dịch vụ đạt mức tăng trưởng cao nhất, từ 52,46 triệu đồng/năm trước khi vay lên 92,48 triệu đồng/năm sau khi vay, mức chênh lệch tăng 40,02 triệu đồng (tăng 1,76 lần). Nhóm hộ chăn nuôi tăng thu nhập 1,35 lần; nhóm trồng trọt tăng thu nhập 1,14 lần.
  • Hiệu quả xã hội và tình hình trả nợ: Có 16/30 hộ đã chính thức thoát nghèo, đạt tỷ lệ 53,3%; 14 hộ còn lại (46,7%) chưa thoát nghèo do quy mô vốn còn nhỏ, sử dụng vốn sai mục đích, gia đình có người đau ốm hoặc gặp rủi ro sản xuất. Về thực hiện nghĩa vụ nợ: 21 hộ trả nợ đúng hạn (chiếm 70,0%), 5 hộ chưa đến hạn (chiếm 16,7%), và 4 hộ quá hạn (chiếm 13,3% do sử dụng vốn sai mục đích).
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả vốn vay: Kết quả khảo sát xác định 3 nguyên nhân hàng đầu cản trở hiệu quả đồng vốn: thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật (22 hộ đồng ý), rủi ro dịch bệnh gồm Covid-19 và dịch tả lợn châu Phi (18 hộ), và sự bấp bênh của giá cả thị trường tiêu thụ (15 hộ). Yếu tố lao động (9 hộ) và thiên tai thời tiết (6 hộ) cũng có tác động nhất định.

Phần 5: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay của các hộ nghèo

Trên cơ sở thực trạng, chương này đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể: điều chỉnh mức vốn vay phù hợp với chu kỳ kinh doanh cây chè và mở rộng quy mô chuồng trại; tổ chức tập huấn kỹ thuật chuyển giao sản xuất nông nghiệp; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát sau giải ngân của các tổ chức đoàn thể để triệt tiêu tình trạng sử dụng vốn sai mục đích. Đồng thời, tác giả đưa ra các kiến nghị độc lập đối với chính quyền địa phương, Ngân hàng Chính sách xã hội, các tổ chức đoàn thể nhận ủy thác và bản thân các hộ vay vốn.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã phản ánh toàn diện tình hình sử dụng vốn tín dụng chính sách tại xã Phúc Xuân năm 2020 thông qua hệ thống dữ liệu thực chứng:

Tiêu chí phân loại Chỉ tiêu cụ thể Số hộ Số tiền (Triệu đồng) Tỷ lệ cơ cấu (%)
Kênh ủy thác qua các tổ chức hội Hội Nông dân 17 850 59,03%
Hội Cựu chiến binh 10 470 32,64%
Hội Phụ nữ 3 120 8,33%
Tổng cộng 30 1.440 100,00%
Mục đích sử dụng vốn vay Sản xuất nông nghiệp (chè, chăn nuôi) 17 850 58,00%
Giải quyết việc làm / Ngành nghề dịch vụ 10 500 34,00%
Khác (Làm bể chứa nước sạch) 3 120 8,00%
Tình hình trả nợ ngân hàng Trả nợ đúng hạn 21 - 70,00%
Chưa đến hạn 5 - 16,70%
Nợ quá hạn 4 - 13,30%
Tình trạng thoát nghèo Đã thoát nghèo 16 - 53,30%
Chưa thoát nghèo 14 - 46,70%

Về hiệu quả gia tăng thu nhập, dữ liệu điều tra thực tế cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa các lĩnh vực đầu tư:

  • Lĩnh vực ngành nghề - dịch vụ đạt hiệu quả kinh tế cao nhất: Thu nhập bình quân tăng từ 52,46 triệu đồng/hộ lên 92,48 triệu đồng/hộ, tăng tuyệt đối 40,02 triệu đồng/hộ (tương ứng gấp 1,76 lần).
  • Lĩnh vực chăn nuôi: Quy mô chăn nuôi chuyển từ tận dụng thức ăn thừa sang nuôi gia súc, gia cầm tập trung hơn, mức tăng thu nhập đạt 1,35 lần so với trước khi vay.
  • Lĩnh vực trồng trọt: Mức tăng thu nhập đạt 1,14 lần; hiệu quả thấp hơn do chu kỳ sinh trưởng của cây chè cải tạo kéo dài và chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết, sâu bệnh.

Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất:

  • Đối với chính quyền địa phương: Lồng ghép hiệu quả nguồn vốn tín dụng ưu đãi với các chương trình khuyến nông, khuyến lâm của thành phố; phối hợp với Phòng Nông nghiệp tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh chè an toàn và phòng chống dịch bệnh vật nuôi; nâng cao chất lượng quy hoạch vùng nguyên liệu 7 làng nghề chè truyền thống.
  • Đối với Ngân hàng Chính sách xã hội: Cân đối nguồn vốn để nâng hạn mức cho vay phù hợp với chi phí đầu vào thực tế; đơn giản hóa quy trình thẩm định; duy trì cố định và nâng cao hiệu quả các buổi giao dịch lưu động tại trụ sở UBND xã; rà soát hồ sơ giãn nợ đối với các hộ chịu rủi ro dịch bệnh khách quan.
  • Đối với các tổ chức hội - đoàn thể và hộ vay: Các hội nhận ủy thác cần nâng cao tính minh bạch trong khâu bình xét đối tượng vay vốn tại thôn xóm; theo dõi sát sao tiến độ sử dụng vốn sau giải ngân để phát hiện và ngăn chặn kịp thời việc dùng vốn sai mục đích (yếu tố dẫn tới 13,3% nợ quá hạn). Các hộ vay cần nâng cao tinh thần trách nhiệm hoàn trả, chủ động tham gia học tập chuyển giao công nghệ thay vì đầu tư theo cảm tính.

Đóng góp của khóa luận: Tác giả đã cung cấp một bức tranh định lượng chi tiết về tác động thực tế của tín dụng chính sách đối với công tác giảm nghèo tại một địa bàn đặc thù vùng ven đô có thế mạnh cây chè. Đề tài chứng minh bằng số liệu rằng vốn tín dụng ưu đãi giải ngân vào ngành nghề dịch vụ và cải tạo nông nghiệp hàng hóa mang lại tỷ lệ thoát nghèo vượt trội (53,3%), đồng thời xác định chính xác các điểm nghẽn về trình độ chủ hộ và công tác kiểm tra giám sát ủy thác tại cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có những giới hạn nghiên cứu được ghi nhận từ văn bản:

  • Hạn chế về quy mô mẫu và phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ thực hiện điều tra toàn bộ 30 hộ nghèo và cận nghèo tại một đơn vị hành chính cấp xã (xã Phúc Xuân), do đó tính đại diện có thể chưa bao quát hết các đặc thù tín dụng chính sách của toàn bộ khu vực ngoại thành TP. Thái Nguyên.
  • Hạn chế về điều kiện ngoại cảnh: Đợt điều tra thực địa (tháng 02 đến tháng 05/2021) diễn ra trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và dịch tả lợn châu Phi đang diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi tiêu thụ sản phẩm nông sản và hoạt động dịch vụ của hộ vay, từ đó tác động nhất định đến kết quả ghi nhận thu nhập.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phạm vi khảo sát sang các chương trình tín dụng khác của NHCSXH (cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cho vay giải quyết việc làm, cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường) trên toàn địa bàn thành phố Thái Nguyên; thực hiện nghiên cứu đánh giá theo chuỗi thời gian dài hạn sau đại dịch để kiểm định tính bền vững của các hộ đã thoát nghèo.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo cụ thể đối với các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành: Sinh viên ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế phát triển, Phát triển nông thôn và Tài chính - Ngân hàng có thể tham khảo phương pháp tiếp cận điều tra toàn bộ (census) tại cấp cơ sở, cách thiết kế bảng hỏi đánh giá mức độ gia tăng thu nhập và phương pháp xây dựng ma trận SWOT trong phân tích kinh tế địa phương.
  • Cán bộ quản lý và tổ chức thực thi chính sách: Cung cấp tư liệu thực chứng cho cán bộ tín dụng NHCSXH TP. Thái Nguyên và lãnh đạo UBND xã Phúc Xuân trong việc rà soát quy trình bình xét ủy thác qua 3 hội đoàn thể (Nông dân, Cựu chiến binh, Phụ nữ).
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng số liệu phản ánh chi tiết hiện trạng đất đai, nhu cầu vốn và sự biến động thu nhập trước - sau vay vốn của từng nhóm ngành sản xuất tại Phần 4 của khóa luận.

Câu hỏi thường gặp

1. Tổng số vốn tín dụng ưu đãi được giải ngân cho các hộ điều tra tại xã Phúc Xuân là bao nhiêu và được phân bổ qua các tổ chức hội nào? Tổng số vốn vay ưu đãi giải ngân cho 30 hộ điều tra trong năm 2020 là 1.440 triệu đồng (1,44 tỷ đồng). Nguồn vốn được phân bổ ủy thác qua 3 tổ chức đoàn thể: Hội Nông dân quản lý 17 hộ với 850 triệu đồng; Hội Cựu chiến binh quản lý 10 hộ với 470 triệu đồng; Hội Phụ nữ quản lý 3 hộ với 120 triệu đồng.

2. Nhóm ngành sản xuất nào mang lại mức tăng trưởng thu nhập cao nhất cho hộ nghèo sau khi tiếp cận vốn vay? Nhóm ngành nghề - dịch vụ đem lại hiệu quả tăng thu nhập cao nhất. Thu nhập bình quân của nhóm hộ này đã tăng từ 52,46 triệu đồng/hộ/năm (khi chưa vay) lên 92,48 triệu đồng/hộ/năm (sau khi vay vốn), tương ứng mức tăng 40,02 triệu đồng/hộ/năm (tăng gấp 1,76 lần), vượt trội so với nhóm hộ chăn nuôi (tăng 1,35 lần) và nhóm hộ trồng trọt (tăng 1,14 lần).

3. Tỷ lệ hộ thoát nghèo sau khi sử dụng vốn vay đạt mức bao nhiêu và các nguyên nhân chủ yếu khiến một số hộ chưa thể thoát nghèo là gì? Sau khi tiếp cận và sử dụng vốn vay, có 16 trên tổng số 30 hộ đã thoát nghèo, đạt tỷ lệ 53,3%; còn lại 14 hộ chưa thoát nghèo (chiếm 46,7%). Nguyên nhân khiến 14 hộ chưa thoát nghèo bao gồm: sử dụng vốn sai mục đích làm triệt tiêu hiệu quả kinh tế; gặp rủi ro dịch bệnh trong sản xuất làm thất thoát vốn; mức vốn vay còn thấp chưa đủ quy mô tạo tích lũy; và gia đình có người thân ốm đau bệnh tật dẫn đến thiếu hụt lao động chính.

4. Tình hình thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi của các hộ vay vốn tại xã Phúc Xuân diễn ra như thế nào? Trong tổng số 30 hộ điều tra: có 21 hộ hoàn trả nợ đúng hạn (chiếm tỷ lệ 70,0%); 5 hộ chưa đến kỳ hạn trả nợ (chiếm 16,7% do thời điểm vay vốn chưa lâu); và 4 hộ rơi vào tình trạng trả nợ quá hạn (chiếm 13,3%). Nguyên nhân của các khoản nợ quá hạn bắt nguồn từ việc sử dụng vốn vay sai mục đích, không sinh lời để bù đắp nghĩa vụ nợ.

5. Ba rào cản lớn nhất ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng vốn vay của các hộ nghèo tại địa phương được xác định là gì? Qua khảo sát, 3 yếu tố rào cản hàng đầu gồm có: sự thiếu hụt kiến thức khoa học kỹ thuật trong trồng trọt và chăn nuôi (22 hộ lựa chọn); ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch bệnh bao gồm dịch Covid-19 làm đình trệ lưu thông hàng hóa và dịch tả lợn châu Phi (18 hộ lựa chọn); và sự biến động tiêu cực của giá cả thị trường đầu ra cho nông sản (15 hộ lựa chọn).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nông Ngọc Thái đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều và đánh giá thực chứng tác động của 1.440 triệu đồng vốn vay tín dụng ưu đãi từ NHCSXH tại xã Phúc Xuân, TP. Thái Nguyên. Thông qua phương pháp điều tra toàn bộ 30 hộ nghèo và cận nghèo, đề tài khẳng định vai trò tích cực của nguồn vốn ủy thác qua các tổ chức đoàn thể trong việc hỗ trợ 53,3% số hộ thoát nghèo và thúc đẩy thu nhập hộ tăng từ 1,14 đến 1,76 lần tùy từng ngành sản xuất. Dù còn 13,3% tỷ lệ nợ quá hạn do sử dụng vốn sai mục đích và chịu tác động của dịch bệnh, công trình đã đề xuất được hệ thống giải pháp và kiến nghị sát thực tế nhằm gắn kết nguồn vốn tín dụng chính sách với đào tạo kỹ thuật, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững tại địa phương.