CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG XÃ HỘI. Một số khái niệm liên quan Khái niệm chính sách Có nhiều cách phát biểu khác nhau về chính sách nhưng có thể tập hợp lại một số khái niệm như sau: Theo từ điển Tiếng Anh (Oxford English Dictionary): “chính sách là một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách”[1] Theo Từ điển tiếng Việt: “chính sách được hiểu là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách.” [2] Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa.”[3] Qua những khái niệm, định nghĩa trên tác giả tiếp cận khái niệm chính sách như sau: Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó.
Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường. Khái niệm tín dụng Theo từ điển Bách khoa Tiếng Việt: “Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Đó là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ.
Do đó, tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - một bên là người cho vay, và một bên là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng 6 Luan van buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả”[4] Theo Giáo trình Tín dụng Ngân hàng, NXB Thống kê : “Tín dụng được định nghĩa rõ ràng là sự thể hiện cho mối quan hệ vay và cho vay. Trong đó, người vay có thể là cá nhân hoặc tổ chức, còn người cho vay là ngân hàng, hoặc tổ chức tài chính tín dụng nào đó. Sản phẩm vay có thể là hàng hóa hoặc tiền.
Mối quan hệ vay và cho vay này có những quy định và ràng buộc cụ thể như vay tín chấp hay vay thế chấp. Bên cạnh đó, tín dụng thì luôn gắn với lãi suất. Những khoản vay tín dụng đều được áp lãi suất theo quy định của bên cho vay mà người vay muốn vay phải chấp nhận thực hiện. Như vậy, thực chất tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả.
Khái niệm chính sách tín dụng xã hội Theo từ điển Bách khoa Tiếng Việt :“Chính sách tín dụng xã hội là chính sách đặc biệt hướng tới người nghèo và các đối tượng chính sách khác, đó là việc Nhà nước tổ chức huy động các nguồn lực tài chính để cho các đối tượng chính sách có thể tạo việc làm, cải thiện đời sống, hạn chế tình trạng đói, nghèo. Vì đây là một loại tín dụng mang tính chính sách nên Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với người vay về cơ chế cho vay, cơ chế xử lý rủi ro, lãi suất cho vay, điều kiện, thủ tục vay vốn.”[6] Theo NHCSXH Việt Nam:“Tín dụng chính sách xã hội là một chuỗi các sản phẩm tín dụng nhằm phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác theo nguyên tắc ưu tiên hộ nghèo đến hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, đã tạo thành một hệ thống chính sách đồng bộ, bao trùm các nhóm đối tượng thụ hưởng, hỗ trợ đa chiều cho người dân không chỉ giảm nghèo mà còn thoát nghèo bền vững, ngăn chặn và đẩy lùi nạn tín dụng đen theo Chỉ thị số 12/CT-TTg ngày 25/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ.” [7] Tại Điều 1, Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ đã khẳng định: “Tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và 7 Luan van các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội.” [8] Khái niệm Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) Theo “Giáo trình Tài chính tiền tệ”, NXB Tài chính định nghĩa: “Ngân hàng chính sách Xã hội là ngân hàng của Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mà phục vụ cho các đối tượng khách hàng theo chính sách ưu tiên của Nhà nước. NHCSXH là một trong những công cụ đòn bẩy kinh tế của Nhà nước nhằm giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vươn lên thoát nghèo.” [9, Tr 6] Theo Wikipedia “ Ngân hàng Chính sách xã hội (tên giao dịch tiếng Anh: Vietnam Bank for Social Policies, viết tắt: VBSP) là tổ chức tín dụng thuộc Chính phủ Việt Nam, được thành lập theo Quyết định 131/2002/QĐ-TTg ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ để cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Khác với ngân hàng thương mại, Ngân hàng Chính sách xã hội hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được Chính phủ Việt Nam bảo đảm khả năng thanh toán; tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng là 0%; Ngân hàng không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước.” [10] Nội dung, vai trò và đặc trưng của chính sách tín dụng xã hội 1.
Nội dung của chính sách tín dụng xã hội - Chính sách tín dụng xã hội là bộ phận cấu thành chính sách chung của Đảng hay Chính quyền Nhà nước trong việc giải quyết và quản lý các vấn đề tín dụng xã hội bên cạnh các vấn đề chính trị, quân sự, văn hóa,. Chính sách tín dụng xã hội có mối quan hệ mật thiết với chính sách xã hội vì nó bao trùm mọi mặt đời sống của con người, từ điều kiện lao động, sinh hoạt cho đến giáo dục. - Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện các chính sách xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế, vì vậy chính sách tín dụng xã hội có nội dung, vai trò, mục tiêu cơ bản gần giống với 8 Luan van chính sách xã hội, tuy nhiên tập trung đi sâu vào nghiên cứu và thực thi, giải quyết lĩnh vực tín dụng. - Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, chính sách tín dụng xã hội hướng tới sự công bằng xã hội, đảm bảo sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành phần kinh tế trước pháp luật.
Chính sách tín dụng xã hội hợp lý là tạo điều kiện phát triển kinh tế bền vững, quan tâm đến lợi ích và phát huy được tiềm năng lao động sáng tạo của tất cả các giai cấp và tầng lớp dân cư đặc biệt là tầng lớp có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội. Đó là chính sách xã hội tiến bộ và nhân đạo, đảm bảo sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam. - Nội dung của CSTDXH nhằm hỗ trợ, cho vay, tạo động lực phát triển cho nhân dân đặc biệt những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống về vật chất cũng như tinh thần. Từ đó nhân dân có vốn để lao động và trở thành lực lượng có ích cho xã hội, giúp cho đất nước ngày càng phát triển.
Khi kinh tế của cá nhân hoặc một hộ gia đình ngày càng tích cực thì họ sẽ càng có niềm tin và sức mạnh để phấn đấu để vượt qua nghịch cảnh. Từ đó các vấn đề liên quan như: giáo dục, xã hội, văn hóa, .cũng ngày càng được hoàn thiện hơn. - Để đưa các CSTDXH vào thực tiễn đời sống, các CSTDXH cần được tiến hành theo tinh thần xã hội hóa, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội. Vai trò của chính sách tín dụng xã hội Vai trò của CSTDXH tác động đến mọi mặt của đời sống con người như: kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, chính trị,.Cụ thể: + Về lĩnh vực kinh tế CSTDXH có tác động trực tiếp đến kinh tế của từng cá nhân thông qua các khoản vay lãi suất thấp hoặc 0%, tác động trực tiếp đến chính sách lao động – việc làm đi vào cuộc sống góp phần giải quyết việc làm, xây dựng thị trường lao động, nâng cao thu nhập và đời sống người lao động.
Khi họ có vốn để lao động thì họ có thể tạo ra thu nhập từ số vốn đó, rồi họ sẽ trở thành lực lượng có ích cho xã hội, 9 Luan van giúp cho đất nước ngày càng phát triển. Khi kinh tế của cá nhân hoặc một hộ gia đình ngày càng tích cực thì họ sẽ càng có niềm tin và sức mạnh để phấn đấu để vượt qua nghịch cảnh. Họ sẽ có thu nhập để chăm lo cho đời sống cá nhân của chính họ, tất cả nhu cầu của họ sẽ được cải thiện và từ đó đời sống vật chất và tinh thần cũng được cải thiện. Hơn nữa, vốn cho vay giúp người vay khắc phục được tư tưởng tự ti, ỷ lại khi nhận vốn cấp phát; tự nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của mình, tạo tiền đề hòa nhập sản xuất hàng hóa thị trường.
Việc thực hiện tốt CSTDXH cho thấy sự phát triển của một đất nước, và tất nhiên kinh tế của đất nước đó sẽ ngày một phát triển và hùng mạnh. + Về vấn đề xã hội Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, có nguyên nhân chủ yếu và cơ bản là do thiếu vốn, thiếu kiến thức làm ăn.