CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN TÍN DỤNG 1.1 Hệ thống thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1.1 Khái niệm TTTD và hệ thống TTTD ngân hàng 1.Khái niệm TTTD Đến nay trên thế giới chưa có tài liệu chính thức nào đưa ra một định nghĩa đầy đủ về TTTD và hoạt động TTTD. Theo Điều 3, Thông tư 03/2013/TT-NHNN ngày 28/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy định về hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có đưa ra khái niệm: “Thông tin tín dụng là các thông tin về khách hàng vay và những thông tin liên quan đến khách hàng vay tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Khái niệm hệ thống TTTD Hệ thống TTTD (Credit Information System - CIS) là một hệ thống thông tin kinh tế, được thiết kế đáp ứng yêu cầu của hoạt động tín dụng ngân hàng. Hệ thống TTTD là một kết cấu tích hợp giữa các hệ thống tổ chức, cơ chế vận hành mạng lưới TTTD quốc gia, trong đó hệ thống báo cáo TTTD (Credit information report System) là cốt lõi.
Hệ thống TTTD ngân hàng là một hệ thống thông tin bao gồm tập hợp những con người, các thiết bị phần cứng, cơ sở dữ liệu và phần mềm máy tính, thực hiện việc thu thập, lưu trữ, xử lý, cung cấp TTTD phục vụ cho hoạt động ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng, góp phần đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng. Hệ thống TTTD ngân hàng là một hệ thống mở, ngoài 4 bộ phận như của một hệ thống thông tin chung, nó còn liên kết với nhiều bộ phận, đơn vị hoặc hệ thống thông tin khác trong việc thu thập thông tin đầu vào cũng như xử lý và phân phối thông tin ra. Hệ thống này gồm nhiều hệ thống con liên kết chặt chẽ với nhau, mỗi hệ thống con được thiết kế từ dưới lên trên thành một hệ thống tập trung xung quanh 6 các chức năng chung và các môđun. Các môđun này thực hiện các chức năng chung của các hệ thống con khác nhau và cung cấp các kết nối các tiện ích giữa các hệ thống con.
Hệ thống TTTD có các đặc trưng hoạt động như: điều khiển chung toàn bộ các hệ thống tín dụng, giới hạn dịch vụ, tăng hiệu năng và chất lượng sản phẩm, giảm không thu thập thông tin dư thừa, tăng yêu cầu dịch vụ khách hàng, tăng lợi nhuận, thực hiện những thay đổi thích hợp của hệ thống. Thông tư số: 03/2013/TT-NHNN có quy định về hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do Trung tâm Thông tin tín dụng làm đầu mối (Credit Information Centre, sau đây gọi là CIC). Như vậy hệ thống TTTD của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được hiểu là hệ thống TTTD của đơn vị đầu mối CIC.2 Chu trình vận hành và cấu trúc của hệ thống TTTD 1. Chu trình vận hành của hệ thống TTTD Hoạt động của hệ thống TTTD (gọi tắt là hoạt động TTTD) là việc thu thập, xử lý, phân tích, xếp loại, trao đổi, dịch vụ cung cấp và khai thác sử dụng TTTD.
Dịch vụ TTTD là việc cung cấp các sản phẩm TTTD; Hỗ trợ giải pháp quản trị TTTD và quản trị rủi ro tín dụng; Hỗ trợ, tư vấn, chuyển giao công nghệ về phần mềm quản trị TTTD; Tư vấn, hỗ trợ tìm kiếm TTTD. Dưới đây là quy trình hoạt động của Hệ thống TTTD ngân hàng Nguồn đầu vào Người sử dụng tin Thu thập Cung cấp tin ra Xử lý thông tin Kho dữ liệu Sơ đồ 1. Chu trình vận hành của hệ thống TTTD ngân hàng 1. Cấu trúc của hệ thống TTTD Cấu trúc hệ thống TTTD ngân hàng theo chu trình thu thập, xử lý, cung cấp thông tin bao gồm 4 bộ phận chính là bộ phận thu thập thông tin, bộ phận xử lý thông 7 tin, bộ phận lưu trữ và bộ phận cung cấp thông tin ra.
Các bộ phận này sẽ được đề cập chi tiết tại phần cơ chế hoạt động hệ thống TTTD ngân hàng. Dưới đây là bộ máy tổ chức hệ thống TTTD ngân hàng Hệ thống thông tin tín dụng Nhà nước Tổ chức Cơ sở dữ (Tổ chức công) tham gia liệu TTTD trực tiếp hệ thống Đối tượng Sản phẩm (Báo cáo TTTD) sử dụng sản phẩm Cơ sở Nền tảng pháp lý công nghệ Luật pháp; Điều kiện: Kính tế - xã hội, công nghệ, văn hóa tín dụng… Sơ đồ 1. Cơ cấu tổ chức hệ thống thông tin tín dụng ngân hàng 1.3 Các dịch vụ chính của hệ thống TTTD 1.1 Dịch vụ cung cấp thông tin tín dụng khách hàng doanh nghiệp Trong lịch sử, báo cáo TTTD hay còn gọi là báo cáo tín dụng (Credit report) được hình thành đầu tiên, có thể tính từ năm 1843 khi công ty Mercantile Agency ra đời. Báo cáo TTTD doanh nghiệp thường do các công ty TTTD công, công ty TTTD tư về doanh nghiệp hoặc công ty TTTD đa quốc gia thực hiện và thường không có ranh giới lãnh thổ vì các doanh nghiệp có thể có hoạt động kinh tế khắp toàn cầu.
Nội dung báo cáo TTTD doanh nghiệp là đưa ra các thông tin của khách hàng doanh nghiệp có quan hệ tín dụng, gồm hồ sơ pháp lý, tình hình tài chính, tình hình hoạt động, khả năng trả nợ trong tương lai để cung cấp cho những người cho vay. Có thể chia ra rất nhiều loại báo cáo từ đơn giản đến phức tạp, với mức độ thông 8 tin chi tiết khác nhau tuỳ theo nhu cầu của người sử dụng. Các công ty TTTD đa quốc gia thường tạo lập kho TTTD về doanh nghiệp toàn cầu, lưu trữ hàng triệu hồ sơ doanh nghiệp, thường xuyên cập nhật để sẵn sàng cung cấp thông tin cho người sử dụng khi có yêu cầu. Một nhiệm vụ quan trọng khác của dịch vụ báo cáo TTTD doanh nghiệp là thu thập và cung cấp thông tin nước ngoài phục vụ cho hoạt động tài chính, tín dụng trong nước.
Nhiệm vụ này càng đặc biệt quan trọng khi các nền kinh tế trên toàn cầu đang có xu hướng hội nhập, liên kết chặt chẽ hơn và các nước đều đang mong muốn thu hút đầu tư nước ngoài để tăng trưởng, phát triển kinh tế. Trong hoạt động của nền kinh tế thế giới cũng không tránh khỏi những hiện tượng rủi ro, lừa đảo, rửa tiền, vì thế các cơ quan TTTD quốc tế, Cảnh sát quốc tế và nhiều tổ chức khác luôn theo dõi, giám sát chặt chẽ những hiện tượng này ở khắp toàn cầu, đặc biệt là đối với hiện tượng lừa đảo đã từng xảy ra ở các nước đang phát triển, các nước nghèo và các nước đang chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá sang kinh tế thị trường. Vì vậy các cơ quan TTTD phải có mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan TTTD quốc tế, với các tổ chức giám sát quốc tế để có thông tin giúp ngăn chặn, cảnh báo ngay từ đầu những dấu hiệu lừa đảo quốc tế. Dịch vụ cung cấp thông tin tín dụng khách hàng cá nhân Dịch vụ báo cáo TTTD cá nhân tiêu dùng thường do các công ty TTTD tiêu dùng thực hiện và chỉ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Ở nhiều nước, các tổ chức cho vay thường chia sẻ thông tin về mức độ tin cậy tín dụng của khách hàng vay là cá nhân tiêu dùng, khách hàng thẻ tín dụng (credit card). Việc chia sẻ này có thể diễn ra theo 2 con đường tự nguyện hay bắt buộc. Hình thức bắt buộc thông qua các cơ quan TTTD công, hoạt động trực thuộc NHTW, thực tế trên thế giới rất ít tổ chức TTTD công thực hiện dịch vụ báo cáo về TTTD tiêu dùng. Hình thức tự nguyện được thực hiện qua các công ty TTTD tiêu dùng, được thiết lập bởi chính các tổ chức cho vay.
Các công ty TTTD tiêu dùng thường thu thập thông tin về khách hàng vay thông qua các TCTD. Đồng thời họ thu thập thông tin từ nhiều nguồn (tòa án, cơ quan công cộng, cơ quan thuế…) và hoàn thiện thành từng hồ sơ về khách hàng riêng biệt. Các 9 tổ chức cho vay có thể yêu cầu cung cấp thông tin về khách hàng thông qua các báo cáo TTTD từ các công ty TTTD tiêu dùng. Các TCTD cung cấp thông tin cá nhân về khách hàng vay cho các công ty TTTD tiêu dùng sẽ được quyền truy cập vào kho dữ liệu TTTD để nhận thông tin một cách chính xác, kịp thời.
Hoạt động của các công ty TTTD tiêu dùng là dựa trên nguyên tắc hai chiều, được xây dựng trên nguyên tắc ký kết hợp đồng cung cấp và khai thác TTTD giữa các công ty TTTD tiêu dùng và các TCTD. Sản phẩm của dịch vụ TTTD tiêu dùng có thể có nhiều loại, phụ thuộc vào những thông tin thu thập được và loại hình tín dụng (tín dụng tiêu dùng, cho vay thế chấp, tín dụng thương mại, tín dụng thẻ…). Báo cáo TTTD có thể là những thông tin đơn giản về nợ xấu hay vỡ nợ, hay là những báo cáo chi tiết về tài sản và nguồn vốn, tài sản đảm bảo, cấu trúc kỳ hạn nợ, phương thức thanh toán, nhân công, lịch sử của khách hàng vay (là những thông tin tích cực). Ngoài ra công ty TTTD tiêu dùng còn cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng khác như dịch vụ chấm điểm tín dụng đối với khách hàng vay theo những tiêu chí cụ thể, dựa trên các đặc điểm hay lịch sử của khách hàng; danh sách khách hàng có vi phạm tín dụng, thanh toán; danh sách khách hàng có dấu hiệu gian lận.
Nội dung về thu thập, xử lý, cung cấp thông tin ra đối với cá nhân cũng gần giống như với phần báo cáo TTTD doanh nghiệp, tuy nhiên, phạm vi, mức độ có thấp hơn.2 Dịch vụ xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp Lịch sử ghi nhận dịch vụ xếp loại tín dụng hình thành đầu tiên vào năm 1906 khi công ty Moody’s ra đời. Ban đầu nó chỉ xếp loại các doanh nghiệp, nhưng gần đây do tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh nên đã phát triển thêm dịch vụ xếp loại đối với cá nhân. Do hai loại đối tượng khác nhau nên đã hình thành hai dịch vụ là xếp loại tín dụng với doanh nghiệp và chấm điểm tín dụng đối với cá nhân tiêu dùng. Xếp loại tín dụng doanh nghiệp là việc phân tích, xếp loại các doanh nghiệp (là khách hàng của các NHTM) có đặt trong mối quan hệ biện chứng với môi trường kinh doanh, môi trường kinh tế - xã hội.