Chương 1 giới thiệu tổng quan của nghiên cứu, tính cấp thiết và xác định mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, thiết lập quy trình nghiên cứu. Trong chương này phương pháp nghiên cứu được mô tả sơ lược các phương pháp được dùng trong nghiên cứu và những đóng góp của luận án nghiên cứu. Bên cạnh đó, kết cấu của luận án cũng được được mô tả ở phần cuối của chương. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam đã đem lại nhiều cơ hội thay đổi chất lượng cuộc sống cho người dân.
Trong năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6.81%, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đáng kể, mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, đời sống của nhân dân đã được nâng cao, thu nhập của nhân dân tương đối ổn định, người nghèo đã cơ bản có cuộc sống được cải thiện hơn. Song, bên cạnh đó cũng còn không ít những khó khăn mà người nghèo đang phải đối mặt như tình trạng bị mất việc làm, việc làm không ổn định của một số lao động có trình độ thấp ở các vùng miền, các rủi ro về thiên tai và các vấn đề xã hội phức tạp đang nảy sinh trước xu thế phát triển. Đói nghèo là một vấn nạn chung của toàn xã hội mà người nghèo ngày càng dễ bị tổn thương trước những cú sốc của cuộc sống như ốm đau, thiên tai và các tổn thương khác mà thời gian hồi phục lâu hơn. Công tác giảm nghèo luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, coi đó là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đến nay, mặc dù công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được nhiều tiến bộ và thành công, nhưng hiện tượng tái nghèo đang là nguy cơ rất lớn, các cú sốc do thời tiết, sức khỏe và các rủi ro về thu nhập còn phổ biến và có dấu hiệu gia tăng. Bên cạnh đó, phát sinh những nguồn gốc nguyên nhân mới tạo ra tính 1 dễ bị tổn thương trước xu hướng phát triển toàn cầu. Do vậy, công tác giảm nghèo hiện nay vẫn đang là vấn đề cấp bách và thách thức trong quá trình phát triển. Vừa qua, cả nước ta đã kết thúc giai đoạn thực hiện kế hoạch giảm nghèo 5 năm và chuẩn nghèo áp dụng theo tiêu chí thu nhập (giai đoạn 2011 -2015).
Theo số liệu khảo sát của Tổng cục Thống kê, từ đầu năm 2016 cả nước ta có khoảng 2.569 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 9,88%; có khoảng 1.784 hộ cận nghèo chiếm tỷ lệ 5,22% (TCTK, 2016). Người nghèo đang tập trung ở nhóm dân tộc thiểu số là những đối tượng chiếm không quá 15% dân số nhưng chiếm gần một nửa số lượng những người nghèo và hai phần ba người cùng cực (NHTG, 2012). Bước sang giai đoạn mới với tiêu chí chuẩn nghèo đa chiều, từ đầu năm 2016 các tỉnh thành trong cả nước cũng đã có các đợt tổng điều tra và đánh giá những kết quả đạt được và đề ra những phương hướng kế hoạch để thực hiện một giai đoạn mới theo tiêu chí mới phù hợp với điều kiện trong giai đoạn hiện nay và phù hợp với xu hướng phát triển xã hội. Vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) là vùng kinh tế phát triển và năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững và đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Là khu vực đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước, là địa bàn có vai trò cầu nối với các khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long và khu vực Tây Nguyên. Hiện nay, khu vực ĐNB có 6 tỉnh thành bao gồm TP.HCM, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh và Bà Rịa –Vũng Tàu (theo Quyết định số 943/2012- TTg). Vùng Đông Nam Bộ đóp góp hơn 2/3 nguồn thu ngân sách của cả nước, với số dân hơn 15 triệu người và mật độ dân số trung bình hơn 600 người/km2, trong đó có đến 1/3 là dân số di cư từ các tỉnh thành khác trong cả nước. Chính sách giảm nghèo ở khu vực đạt nhiều kết quả tích cực, tại địa phương các tỉnh thành đã có nhiều hoạt động vì người nghèo và phát huy tính hiệu quả với tỷ lệ giảm nghèo của khu vực giảm đáng kể (chiếm tỷ lệ 1%).
Số liệu báo cáo thống kê của BLĐTBXH năm 2016, tại khu vực các tỉnh thành có vị trí xếp hạng theo số hộ nghèo thấp nhất là tỉnh Bình 2 Dương (vị trí thứ 63), TPHCM xếp vị trí 62, Đồng Nai xếp vị trí 61, Bà Rịa - Vũng Tàu xếp vị trí 60, Tây Ninh xếp vị trí 59 và Bình Phước xếp vị trí 45 (xếp hạng theo tổng số hộ nghèo cao đến thấp trên cả nước). Vùng ĐNB với thế mạnh tập trung là các khu công nghiệp và dịch vụ, cùng với các chính sách xã hội hóa giảm nghèo, nhiều mô hình triển khai hoạt động giảm nghèo theo đặc thù kinh tế của địa phương đã phát huy tốt năng lực và tạo giá trị phúc lợi cho các hộ gia đình, một số mô hình như chăn nuôi bò sinh sản ở Phú Riềng (tỉnh Bình Phước), mô hình chăn nuôi dê (tỉnh Đồng Nai), mô hình vay vốn tạo việc làm, học nghề (Bình Dương),. đã mang lại hiệu quả tích cực trong công tác giảm nghèo của các địa phương. Tuy đạt được nhiều thành tựu nổi bật, song công tác giảm nghèo tại khu vực vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức mới.
Cùng với tiến trình của đô thị hóa tại hầu hết các tỉnh thành trong khu vực đã và đang đối diện với thực trạng tăng dân số cơ học xảy ra tại các đô thị công nghiệp lớn, dẫn đến quá trình thực hiện các chính sách an sinh xã hội gặp phải nhiều khó khăn, trở ngại. Đây được xem là vấn đề thách thức lớn đối với sự nỗ lực nâng cao mức sống, thực hiện các chính sách an sinh xã hội và phát triển kinh tế ở khu vực này. Cùng với các hoạt động của tài chính vi mô (TCVM), tín dụng vi mô (TDVM) góp phần mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác giảm nghèo. Là một công cụ quan trọng trong cuộc chiến chống lại đói nghèo, nhất là ở các quốc gia đang phát triển (Humle và Mosley, 1996; Shaw, 2004).
Hàng loạt các nghiên cứu như của các tác giả Mohanan (2005), Brown (2010), Ifrin, Islam và Ahmed (2010), Ahmed và ctg (2011) đều cho biết rằng ở các quốc gia đang phát triển TDVM đã tạo ra hiệu ứng tác động tích cực đến đời sống kinh tế văn hóa xã hội của nhân dân. TDVM cung cấp nguồn tài chính cho người nghèo đúng vào lúc họ cần vốn nhất, giúp họ trang trải cho các hoạt động mưu sinh hàng ngày, tăng cường giáo dục, nâng cao sự tự tin vào năng lực tự làm chủ và mạnh dạn lựa chọn các phương án phát triển kinh tế, vượt qua các cú sốc và làm giảm các tổn thương trong cuộc sống (Servon, 1999). Các nghiên cứu 3 của Boamah và Alam (2016); Alhassan và Akuduga (2012); Manganhele (2010); Phùng Đức Tùng và ctg (2013) và Nguyễn Đức Nhật và ctg (2013) đã giới thiệu, phân tích và làm rõ vai trò của TDVM với hoạt động nâng cao khả năng tạo ra giá trị phúc lợi cho gia đình và xã hội. Song song với hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hoạt động phi tài chính là cần thiết nhằm thúc đẩy các đối tượng khách hàng nâng cao tinh thần tự lập, tự chủ vươn lên thoát nghèo.
Thành công này đã được nhân rộng và triển khai theo nhiều hình thức khác nhau tại các quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam. Dẫu vậy, kết luận này hiện nay vẫn đang là vấn đề tiếp tục bàn thảo và ngày càng thu hút nhiều ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu, với mỗi nghiên cứu các tác giả đã giới thiệu, phân tích các khía cạnh, các lĩnh vực khác nhau, có ý kiến cho rằng mối quan hệ tác động của TDVM với thu nhập là không đáng kể xét về mặt thống kê (Sen, 2008; Rukiye, 2012) hay có ý kiến cho rằng họ không tìm thấy tác động của TDVM đến thu nhập hộ gia đình (Diagne và Zeller, 2001), nghiên cứu của Morduch (1998) cho rằng tín dụng từ ngân hàng Grameen ở Bangladesh làm giảm tổn thương hơn là xóa đói giảm nghèo và nghiên cứu của Coleman (1999) cho thấy rằng họ chỉ tìm thấy có một tác động đáng kể của TDVM với phúc lợi của các hộ gia đình ở Thái Lan mà thôi. Cho đến nay, chính phủ ở hầu hết các quốc gia đã ghi nhận vai trò tích cực của TDVM đối với công tác giảm nghèo, các hoạt động nghiên cứu khoa học về TDVM với hiệu quả của nó đang ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều giới chuyên gia nghiên cứu cũng như các học giả trong và ngoài nước. Để tiếp tục kế thừa, tìm hiểu mức độ tác động của TDVM đến thu nhập của hộ nghèo và đặc biệt tại khu vực ĐNB vẫn chưa có nghiên cứu nào được thực hiện thì tại nghiên cứu này, khung lý thuyết được hình thành trên nền tảng các lý thuyết, các phân tích dựa trên tính đặc thù thực tiễn của khu vực nhằm làm rõ mục tiêu đặt ra trong nghiên cứu.
Hơn thế nữa, trước xu hướng mới của quá trình hội nhập, khu vực ĐNB với vai trò là vùng kinh tế trọng 4 điểm phía Nam hội tụ nhiều đặc điểm ưu thế đặc trưng của khu vực nhưng cũng đồng thời nảy sinh nhiều thách thức mới, nhiều chính sách an sinh xã hội mới cần tiếp tục củng cố và phát huy, công tác giảm nghèo trong khu vực đạt được nhiều thành tựu, song trước xu hướng phát triển cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động vì người nghèo, nhân rộng các mô hình giảm nghèo, tăng cường công tác tiếp cận vốn vay và tăng cường các hoạt động phi tài chính khác cho người nghèo nhằm đáp ứng tốt nhu cầu an sinh xã hội và hội nhập chung của đất nước là việc làm cấp bách và quan trọng. Trước bối cảnh đó, nghiên cứu đề ta các vấn đề trọng tâm cần nghiên cứu đó là (1) kiểm định luận điểm TDVM tác động đến giảm nghèo thông qua yếu tố thu nhập của hộ là cần thiết, (2) để nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo cần thiết nâng cao tiếp cận TDVM cho hộ và (3) làm cách nào để nâng cao tiếp cận TDVM cho người nghèo có thêm nguồn vốn để cải thiện thu nhập của họ?