Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về các nhân tô ảnh hưởng đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Chương 2: Lựa chọn mô hình và phương pháp phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Chương 3: Thực trạng và kết quả phân tích các nhân t6 ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực Đông Nam Bộ giai đoạn 2013 — 2021. CHUONG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN VON DAU TU TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI. Một số van dé cơ ban về vốn dau tư trực tiếp nước ngoài.
Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếng Anh gọi là Foreign Direct nvestment, viết tắt là FDI. Hiện nay có rất nhiều tài liệu đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về FDI tùy theo từng khía cạnh xem xét. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), FDI được định nghĩa là: “Một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế của nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”. Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hình thức đầu tư qua biên giới được thực hiện bởi đối tượng cư trú tại một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) với mục tiêu thiết lập lợi ích lâu dài tại một doanh nghiệp (doanh nghiệp FDI) là đối tượng cư trú tại một nền kinh tế khác”.
Ủy ban Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) định nghĩa: “FDI là hoạt động đầu tư mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích và sự kiểm soát lâu dai của một pháp nhân hoặc thé nhân (nha đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) của một đất nước đối với một doanh nghiệp (chi nhánh ở nước ngoài) ở một nên kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế ấy”. Còn Tổ chức Thương mại Thế giới WTO lại đưa ra định nghĩa về FDI như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quan lý tài sản đó. Phương diện quản lý là cơ sở dé phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong hầu hết trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà nhà đầu tư đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong trường hợp này, nhà đầu tư thường được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty”. Tại Việt Nam, theo Luật Đầu tư năm 2005 thì có các quy định “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư tự bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” và “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác dé tiễn hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam”. Từ những khái niệm trên định nghĩa vốn FDI theo Luật đầu tư 2005 có thé được hiểu là hình thức đầu tư do các nhà DTNN bỏ vốn đầu tư va tham gia vào quản lý hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
Mặc dù các văn bản liên quan lĩnh vực này của Việt Nam ngày nay không còn quy định hay giải thích cụ thê về khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài tuy nhiên trong Luật đầu tư 2020 (hiện hành) lại có đề cập đến DTNN trong đó bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp thông qua việc nêu ra các hình thức đầu tư tại Việt Nam. Mặc dù có nhiêu khái niệm khác nhau về FDI, song nhìn chung có thê thây các tô chức đêu thông nhât ở những điêm như môi quan hệ, vai trò, lợi ích và quyên kiêm soát hoạt động kinh doanh của các nhà đâu tư nước ngoài. Tom lại, có thé hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động đầu tư quốc tế lâu dài với quy mô lớn trong đó chủ đầu tư là một cá nhân, hoặc một pháp nhân ở một nước (nước chủ đầu tư) sẽ đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn đủ lớn vào một nước khác (nước nhận đầu tư) nhằm năm giữ quyền kiểm soát, tham gia trực tiếp vào công tác quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn ở nước nhận đầu tư, khai thác tối đa những ưu thế về vốn, công nghệ kỹ thuật, kinh nghiệm quản ly,.dé hướng tới mục tiêu tối đa lợi nhuận.2 Đặc diém và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Thứ nhất, FDI có mục tiêu hàng đầu là thu về lợi nhuận cho các nhà đầu tư.
Thu nhập của các nhà đầu tư sẽ dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh của DN mà họ đã đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải là lợi r tuc. Thứ hai, nguồn vốn FDI hoàn toàn đến từ nước ngoài, không phải nguồn vốn mà nước sở tại đi vay vì vậy không tạo gánh nặng nợ cho nước tiếp nhận đầu tư. Vì vậy, FDI là hình thức thu hút đầu tư có khá ít rủi ro đối với nước tiếp nhận đầu tư, đây là một ưu điểm vượt trội so với những hình thức đầu tư khác từ nước ngoài. Thứ ba, các nhà đầu tư FDI có quốc tịch là người nước ngoài, thực hiện đầu tư ở một quốc gia khác nên sẽ phải tuân thủ luật pháp của nước nhận đầu tư.
Tùy vào quy định của mỗi quốc gia mà các nhà ĐTNN sẽ phải góp một tỷ lệ vốn tối thiêu trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định dé được tham gia kiểm soát DN nhận đầu tư. Các nhà ĐTNN sẽ trực tiếp tham gia điều hành, quản lý quá trình sử dụng vốn, có nghĩa vụ và quyền lợi, cũng như lợi nhuận và rủi ro từ hoạt động kinh doanh tương đương với tỷ lệ phần vốn góp đó. Thứ tư, đây là hình thức đầu tư do các nhà đầu tư tự quyết định đầu tư, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh và hoàn toàn tự chịu trách nhiệm về lãi lỗ. Bên cạnh đó, họ cũng được tự do lựa chọn thị trường, lĩnh vực và hình thức đầu tư.Nhờ đó chủ đầu tư có thể chủ động đưa ra những quyết định phù hợp giúp thu về lợi nhuận cao.
Hình thức đầu tư này có tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, ít bị chi phối bởi chính trị. Thứ năm, hầu hết các nhà đầu tư FDI sẽ chuyền giao kèm theo sự vượt trội về công nghệ kỹ thuật nên nước sở tại có thê tiếp thu được các kỹ thuật và công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý và tác phong làm việc tiên tiễn của các nước phát triên từ đó nâng cao năng suât làm việc. Thứ sáu, nguồn vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của nhà đầu tư đưới dạng vốn điều lệ hay vốn pháp định, mà còn bao gồm cả những khoản vốn vay của DN, thường được vay từ công ty mẹ ở nước ngoài và sẽ được các công ty góp đầy đủ theo quy định nước sở tại để triển khai hoặc là mở rộng quy mô kinh doanh. Thứ bảy, thường thì vốn FDI là nguồn vốn đài hạn, vì vậy những quốc gia tiếp nhận đầu tư có thé tận dụng điều này trong việc phát triển kinh tế đất nước.
Song song với việc đầu tư vốn chính là việc xây dựng các công trình như nhà máy, cơ sở sản xuất tại nước sở tại, do đó thời gian góp vốn thường sẽ dài và có tính ôn định cao. Bên cạnh những lợi ích to lớn, nguồn vốn FDI cũng mang lại những khó khăn, thách thức cho nước sở tại. Mục đích hàng đầu của các nhà ĐTNN luôn là thu được lợi nhuận tối đa do đó họ quyết định quy mô, phương thức sử dụng vốn theo hướng có lợi cho họ nhất, đôi khi sẽ gây ra những tổn thất, thiệt hại cho nước sở tại. Chính vì lẽ đó các nước tiếp nhận đầu tư FDI cần phải tạo cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và có chính sách thu hút phù hợp dé định hướng FDI tới phục vụ cho các mục tiêu phát triển KT - XH của nước mình.
Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Hiện nay, các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài khá phong phú, theo quy định tại pháp luật Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài có thé đầu tư theo các hình thức sau: Thành lập Doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài Doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài là loại hình DN do các nhà DTNN đầu tư toàn bộ vốn dé thành lập tại nước sở tại, thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, có tư cách pháp nhân và phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại. Chủ đầu tư sẽ tự quản lý và chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh. Thành lập Doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tw nước ngoài Doanh nghiệp liên doanh là DN do hai hoặc nhiều bên đồng sở hữu, hợp tác ký kết thành lập tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư trong nước hoặc áp dụng trên cơ sở Hiệp định ký kết giữa các quốc gia dé tiến hành hoạt động đầu tư va kinh doanh tại nước sở tại.
Hình thức này tạo ra một DN mới có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước nhận đầu tư, các bên tham gia sẽ cùng góp vốn, cùng quản lý, cùng phân phối lợi nhuận và cùng chia sẻ rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh. Đầu tư theo hình thức Hop đồng hop tác kinh doanh (BCC) Theo Khoản 14 Điều 3 Luật đầu tư 2020 Hợp đồng hợp tác kinh doanh (gọi tắt BCC) được định nghĩa “BCC là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm theo quy định của pháp luật mà không thành lập tổ chức kinh tế”. Theo đó việc phân chia kết quả kinh doanh, quyền và nghĩa vụ giữa các bên không bị ràng buộc về mặt tổ chức mà được quy định theo hợp đồng mà các bên ký kết.