chương 1 - Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Thông qua kết quá nghiên cứu và thảo luận, nêu lên nhận xét chung về tình hình của địa phương đồng thời đưa ra những kiến nghị góp phần vào công tác quản lý tại địa phương. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm cơ bản Mức sống vật chất.
Mức sống vật chất của dân cư là một khía cạnh rất quan trọng trong cuộc sống xã hội. Nó là gốc rễ, có tính quyết định đến các mặt khác của hoạt động xã hội. Mức sống vật chất của dan cư cũng phản ánh sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy, việc phản ánh đầy đủ thực trạng, sự biến đổi mức sống vật chất của dân cư trên phạm vi toàn xã hội nói chung, của từng vùng, từng dân tộc, từng nhóm xã hội nói riêng là vô cùng cần thiết.
Vùng ven biển. Vùng ven biển gồm các huyện, xã tiếp giáp bờ biển. Vùng ven biển ngoài canh tác nông nghiệp còn có các hoạt động về đánh bắt và nuôi trồng thủy sản; là vùng có khả năng về phát triển giao thông đường thủy và nhiều tiềm năng kinh tế. Đây là vùng có điều kiện thoát nước và vệ sinh môi trường tương đối thuận lợi (do mật độ cư trú không cao như vùng nội đồng), nhưng khó khăn về cấp nước sinh hoạt do nước ngầm bị nhiễm mặn, nước mặt nhiều nơi bị nhiễm phèn.
Nhu cầu đời sống của con người được biểu hiện ở hai khía cạnh: - Nhu cầu vật chất: đó là lương thực, quần áo, nhà cửa, đồ ding, phương tiện đi lại và các thứ khác cần cho cuộc sống. - Nhu cầu phi vật chất: có thể nói một cách khái quát đó là nhu cầu về cuộc sống tỉnh thần và hệ thống giá trị của con người như: văn hoá, giáo dục, tôn giáo, chính trị, xã hội, tâm lý, quyền tự do công dân. Hiện nay đang tồn tại nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau về đói nghèo. Tuy nhiên, các nhà khoa học Việt Nam thống nhất với nhau một số khái niệm được đưa ra trong “Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000” như sau: - Nghéo: là tình trạng một bộ phận dan cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương điện.
: Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. - Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồm văn hoá, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp. - Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chỉ trả cộng đồng.
Khi tính toán chuẩn nghèo quốc tế, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra “chuẩn nghèo đưới” là 1USD/người/ngày đối với các nước thu nhập thấp (tính theo mức giá năm 1993). “Chuẩn nghèo trên” được tính bằng cách nhân đôi mức thu nhập chuẩn nghèo dưới ở mức 2 USD/người/ngày đối với những nước có thu nhập trung bình lớp dưới. Còn đối với các nước thu nhập cao thì chuẩn nghèo được xác định là 14 USD/người/ngày. Như vậy, chuẩn nghèo mang tính đặc thù của mỗi nước, phản ánh mức độ đói nghèo trong hoàn cảnh nước đó.
Tình trạng nghèo khổ không chỉ tồn tại ở các nước đang phát triển, mà nó còn tương đối phổ biến ở các nước phát triển. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một đất nước có thu nhập bình quân đầu người cao như Mỹ cũng là nước có tỉ lệ người sống đưới mức nghèo khổ cao nhất trong các nước phát triển: 16,5%. Thụy Điển có mức thu nhập bình quân đầu người đứng thứ 13 trong các nước phát triển nhưng có tỷ lệ nghèo khổ thấp nhất: 6,8%. Những số liệu đưới đây cũng cho thấy, ở các nước phát triển, 20% dân số nghèo nhất có mức thu nhập bằng 1/7 so với 20% dân số giàu nhất, con số này ở Mỹ là 1/9.
Hiện trạng này chỉ ra rằng, sự nghèo khổ trong một xã hội không chỉ là hậu quả của mức thu nhập thấp mà còn là hệ quả của sự phân phối thu nhập bất công bằng trong chính xã hội đó. Chính vì sự khác nhau về quan điểm cách tính chuẩn nghèo như trên, nên số liệu vé tình trạng đói nghèo ở Việt Nam rất khác nhau, thậm chí có sự chênh lệch lớn. Ngân hàng thế giới đưa ra ngưỡng nghèo của Việt Nam là mức chỉ tiêu cần thiết cho hộ gia đình để mua lương thực dé cung cấp năng lượng tối thiểu là 2100 calo/ngày và chiếm 70% nhu cầu chỉ tiêu , còn lại là 30% chi cho nhu cầu khác ngoài lương thực, thực phẩm, ăn mặc, học tập, đi lại, văn hóa.Do đó, những gia đình không đảm bảo mức này là gia đình nghèo khô. Theo công văn số 59/LD-TBXH của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ngày 05-01-1996, nghèo đói ở nước ta được chia thành 3 mức sau đây: ‡ Loại nghèo đói tuyệt đối, là người không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống, với mức thu nhập giới hạn là 15kg gao/thang, hay 45.000d/thang ở nông thôn, 53.000đ/tháng ở thành thị.
+ Loại thiếu đói, có thu nhập dưới 12kg gạo/tháng Vào ngày 8 tháng 6 năm 2005, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã công bố chuẩn nghèo mới. Theo đó thì những hộ gia đình ở nông thôn có thu nhập dưới 200 ngàn đồng/tháng/người được xem là hộ nghèo. Ở thành thị thì những hộ gia đình nào có thu nhậpdưới 260 ngàn đồng/tháng/người được xem là hộ nghèo. Đồng thời, Phó Thủ Tướng cũng đã chỉ ra năm thách thức chính mà Việt Nam đang phải đối mặt trong công tác xóa đói giảm nghèo: - Thứ nhất, về nhận thức thì một phần các hộ nghèo trông chờ nhiều vào những hỗ trợ từ phía Nhà nước.
Cũng vì đó mà các địa phương vẫn còn chạy theo thành tích và nắm danh sách các hộ nghèo thấp hơn thực tế. Kết qua là, một phần các hộ nghèo không thể tiếp cận được với các chính sách của Chính phủ, dan tới hiểu sai lệch về các chính sách. - Thứ hai là, chương trình XDGN chưa đến được với từng hộ nghèo. - Thứ ba là, các nguồn tài nguyên được huy động cho công tác XĐGN còn hạn chế, chưa đạt được mục tiêu đã đề ra.
- Thứ tư là, một vai cơ chế va chính sách không phù hợp với nhiều hộ nghèo và nhiều xã. Cách thực hiện các cơ chế và chính sách không đúng đắn, phù hợp cũng gây ra những tác động tiêu cực lên hiệu quả của chương trình XĐGN. a Và thách thức cuối cùng chính là việc thực hiện các chương trình thì khác nhau từ địa phương này tới địa phương khác, từ thành thị đến nông thôn do khả năng hạn chế của đội ngũ cán bộ tham gia vào công tác XDGN. Một số chỉ tiêu dùng để đánh giá mức sống của dân cư Thu nhập của dân cư.
- Tổng mức thu nhập: là toàn bộ các khoản thu bằng tiền của dân cư và giá trị các khoản thu bằng hiện vật do kết quả lao động của chính họ mang lại; cộng với các khoản thu nhập nhận được ngoài thù lao lao động (không do kết quả lao động) trong một khoảng thời gian nhất định. Cần phân biệt hai loại thu nhập: +. Thu nhập cuối cùng (danh nghĩa) là phần thu nhập còn lại sau khi đã thanh toán với hệ thống tài chính tín dụng (như nộp thuế, mua công trái, tín phiếu, đoàn thể phí, các đóng góp ). + Thu nhập thực tế là thu nhập cuối cùng có tính đến sự thay đôi của giá cả.
Thu nhập cuối cùng Thu nhập thực tế = Chỉ số giá trong kì - Mức thu nhập trung bình: Tổng thu nhập của dân cư Thu nhập bình quân đầu người = Dân số trung bình Mức thu nhập bình quân đầu người phan ánh mức thu nhập đại biểu chung nhất của từng vùng, từng địa phương, từng nước; được tính theo thu nhập cuối cùng và thu nhập thực tế. “ Cơ cấu thu nhập: là tỷ trọng từng nguồn thu trong tổng thu nhập dan cư, là chỉ tiêu quan trọng phan ánh khả năng đảm bảo đời sống. Thông qua cơ cấu thu nhập sẽ biết được người dân đã chuyển đổi cách làm ăn như thế nào. Có nhiều quan điểm xác định mức sống tối thiểu.
Theo quan điểm của nhiều nước trên thế giới thì tổng số tiền cần thiết tối thiết tối thiểu được chia làm hai phan: + Chia cho lương thực, thực phẩm (60%) 5É Chia cho các thứ khác (40%) Tài sản của dân cư. Tài sản của dan cư là số của cải vật chất và tài chính của các hộ gia đình có vào thời điểm nhất định, bao gồm: + Nhà (nhà ở và nhà xưởng) + Đồ dùng lâu bền (đồ dùng hay máy móc thiết bi) # Tiền tiết kiệm và quỹ tiền mặt Chỉ tiêu về nhà ở - Số lượng căn hộ: + Chia theo qui mô căn hộ (số phòng, điện tích ở) + Chia theo chất lượng nhà 6 (cấp 1, 2, 3, 4) + __ Chia theo mức bảo đảm tiện nghỉ - Số căn hộ bình quân 1 hộ gia đình: Tông sô căn hộ Số căn hộ bình quân/hộ = Tổng số hộ gia đình 6 Diện tích nhà ở bình quân đầu người. Chỉ tiên về đồ dùng lâu bền. Mục đích của chỉ tiêu này là để tính mức trang bị bình quân về đồ dùng lâu bền cho một hộ: ô tô bình quân/hộ, tivi bình quân/hộ, tủ lạnh bình quân/hộ, xe máy bình quân/hộ.
Chỉ tiêu về tài chính. - Số tiền gửi tiết kiệm bình quân hộ. - Quỹ tiền mặt khác bình quân hộ. Tiêu dùng của dân cư.
Tiêu dùng của dan cư là tất cả các khoản chi tiêu bằng tiền hay hiện vật được tính thành tiền cho tất cả các lĩnh vực sản xuất và đời sống của các hộ gia đình. Có thể chia thành 2 bộ phận lớn: - Tiêu dùng cho sản xuất: mua sắm các phương tiện sản xuất hay đầu tư cho sản xuất nhằm thu lãi cho gia đình. : Tiêu dùng cho đời sống vật chất hằng ngày: ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, khám chữa bệnh.