Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Kết luận và kiến nghị Luan van 6 PHẦN 2 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Tổng hợp một số khái niệm nói về nghèo đói - Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính chất toàn cầu. Nghèo đói không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển kém, mà nó còn tồn tại ngay tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên tùy thuộc vào các điều kiện về kinh tế xã hội, chính trị xã hội, điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia có mức độ nghèo đói khác nhau.
Giới hạn nghèo khổ ở các quốc gia trên thế giới được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu mà họ kiếm được để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm được những vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá trên thị trường. - Đói nghèo là nói về tình trạng hộ gia đình, những cá nhân và cộng đồng thiếu vốn, thiếu các nguồn lực để tạo ra thu nhập đáp ứng được các nhu cầu trong cuộc sống một cách đầy đủ và duy trì được mức tiêu dùng sung túc. - Những khái niệm nói về nghèo đói được các tổ chức quốc tế nêu như sau: Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm về đói nghèo là: Đói nghèo là bao gồm cả khía cạnh xã hội và sinh lý học. - Nghèo đói là nói về thu nhập ít, trình độ thấp, không đảm bảo được mức sống tối thiểu.
- Đói nghèo từ tiếng nói của chính người nghèo. Từ những cảm nhận cụ thể, ta có thể cảm nhận rõ ràng về các khía cạnh của nghèo đói, nghèo đói không chỉ bao hàm nói về sự khốn cùng, cực khổ về vật chất mà còn là thiếu sự hưởng thụ thiếu thốn về y tế và giáo dục. Ở Kênia một người nghèo đã nói về sự nghèo đói: “Hãy xem và quan sát ngôi nhà mà chúng tôi ở rồi đến để xem có bao nhiêu lỗ bị thủng trên nhà. Hãy nhìn những bộ quần áo tôi đang Luan van 7 mặc trên người và những đồ đạc ở trong nhà.
Hãy quan sát tất cả và ghi lại những gì ông thấy. Ông thấy chính là nghèo đói”. [1] Braxin Một nhóm thảo luận đã định nghĩa về đói nghèo là: “Thiếu việc làm, tiền lương thì thấp và ở đây cũng có nghĩa là không có quần áo, thức ăn và không được hưởng thụ về y tế”. [2] Ngoài ra, khái niệm đói nghèo còn được mở rộng để nói về những người không có tiếng nói, không có quyền lực và tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương.
Từ những tiếng nói của người nghèo, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm nói về đói nghèo. [2] - Quan niệm trước đây: Trước đây người ta thường nói nghèo đói thường gắn với mức thu nhập thấp. Tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói của con người trước đây là thu nhập, thu nhập cao thì là người giàu, thu nhập thấp thì là người nghèo. Nhưng thực tế trong cuộc sống đã chứng minh việc xác định đói nghèo theo thu nhập chỉ đo được một phần của cuộc sống.
Thu nhập thấp không cho chúng ta biết hết được mức độ nghèo khổ và cơ cực của những người nghèo khổ mà nó cũng không phản ánh hết được các khía cạnh của đói nghèo. Do đó, quan niệm này còn rất nhiều hạn chế. - Quan điểm hiện nay: Hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo đã có thể hiểu được theo các cách tiếp cận khác nhau và cũng được hiểu rộng hơn, sâu hơn như sau: - Hội nghị bàn về giảm nghèo đói tại Băng Cốc - Thái Lan, ở khu vực châu á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 đã đưa ra khái niệm nói về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói nó bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. + Nghèo tuyệt đối: là thước đo những người một ngưỡng nghèo nhất định, là tình trạng một bộ phận dân cư không được thỏa mãn và hưởng những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương.
[2] Luan van 8 + Nghèo tương đối: là một bộ phận dân cư có tình trạng sống dưới mức trung bình của cộng đồng. [2] - Năm 1998 UNĐP công bố một bản báo cáo có nhan đề “khắc phục về sự nghèo khổ của con người” đã đưa ra những cách nói định nghĩa phù hợp và đúng về nghèo. + Sự nghèo khổ của con người: Con người thiếu những quyền cơ bản như biết đọc, biết viết, được nuôi dưỡng tạm đủ và tham gia vào các quyết định cộng đồng. + Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu khả năng thu nhập tối thiểu và thiếu khả năng chi tiêu tối thiểu trong cuộc sống hằng ngày.
+ Sự nghèo khổ cực độ: Tức là không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu, chi trả tối thiểu. + Sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như sự không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu phí lương thực và lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở mỗi quốc gia, nước này hoặc nước khác. - Quan niệm của Việt Nam Ở Việt Nam hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau nói về cái nghèo xung quanh khái niệm nghèo đói và tách riêng biệt đối và nghèo thành 2 khái niệm, trong đó ý kiến chung nhất cho rằng: - Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện và cũng chỉ thỏa mãn được những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống. - Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo không thể đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống hằng ngày và có mức thu nhập không được đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống dưới mức tối thiểu.
Luan van 9 Giảm nghèo hay xóa đói, giảm nghèo là công việc cấp bách, cần thiết trong mục tiêu phát triển của một quốc gia và bảo đảm việc an sinh xã hội. Giảm nghèo hay xóa đói giảm nghèo nó không chỉ là vấn đề kinh tế đơn giản mà nó đã trở thành một vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng. Vì phần lớn người nghèo của nước ta, đại đa số là sống và làm việc ở nông thôn, nên nếu không giải quyết tốt vấn đề xóa đói giảm nghèo sẽ xảy ra sự mất cân bằng thiếu ổn định trong xã hội và phân hóa giàu nghèo cao sẽ có nguy cơ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo với hậu quả nặng nề hơn là sự bần cùng hóa, đe dọa đến sự ổn định chính trị xã hội và ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng XHCN. Xuất phát từ sự cần thiết đó Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách và mục tiêu đưa ra những giải pháp giảm nghèo để xóa đói giảm nghèo trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế.
Tín dụng đối với người nghèo 2. Khái niệm Tín dụng đối với người nghèo là khoản tín dụng mà chỉ dành riêng cho người nghèo vay, có sức lao động như thiếu nguồn vốn đầu tư để phát triển sản xuất, trong một thời gian nhất định hộ vay phải hoàn trả số tiền gốc và lãi tùy theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất có nguồn ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo thoát khỏi cảnh nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người từng bước vượt qua nghèo đói vươn lên hòa nhập cùng cộng đồng. Tín dụng đối với người nghèo là hoạt động theo những nguyên tắc, mục tiêu, điều kiện riêng vì người nghèo khác với các loại hình tín dụng của các Ngân hàng Thương mại khác. Tín dụng đối với người nghèo không vì mục đích lợi nhuận, hoạt động vì mục tiêu XĐGN nhằm giúp đỡ những người nghèo khó có nguồn vốn để phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống, tạo việc làm, tăng thu nhập cho các hộ nghèo vượt khó.
Khái niệm tín dụng Tín dụng: Là sự vay mượn giữa vật tư, hàng hóa và tiền mặt như quỹ tín dụng, tín dụng ngân hàng. (Nguyễn Văn Ngọc, 2018) Tín dụng ngân hàng: Là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các bên đi vay sẽ chuyển nhượng sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Khái niệm tín dụng Ngân hàng CSXH Tín dụng Ngân hàng CSXH là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho các ĐTCS khác và các hộ nghèo vay ưu đãi phục vụ sản xuất, tạo việc làm, kinh doanh và cải thiện đời sống. Nhằm góp phần ổn định an sinh xã hội, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc xoá đổi giảm nghèo.
Đặc điểm tín dụng Ngân hàng CSXH Tín dụng Ngân hàng CSXH có các đặc điểm sau: - Các hộ vay vốn thuộc hộ nghèo khi đi vay vốn ưu đãi được miễn lệ phí làm thủ tục trong việc vay vốn. - Các hộ thuộc đối tượng nghèo và thuộc các ĐTCS khác khi đi vay vốn ưu đãi tại NHCSXH không cần phải thế chấp tài sản gì cả. - Lãi suất của vốn vay ưu đãi thấp hơn so với lãi suất của các Ngân hàng thương mại khác. Hoạt động cho vay vốn hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách xã hội Ngày 03/12/2014, NHCSXH cùng với 04 tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là Hội, đoàn thể) nhận ủy thác thống nhất và ký lại Văn bản thỏa thuận số 3948/VBTT-NHCS-HPN-HND-HCCB-ĐTNCSHCM “Về việc thực hiện Luan van 11 ủy thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác” thay thế văn bản đã ký kết trước đây.
Điều kiện thực hiện ký hợp đồng cho vay Những tổ chức Hội, đoàn thể có tín nhiệm với NHCSXH, phải đảm bảo các điều kiện sau: - Có uy tín trong nhân dân. - Có tổ chức mạng lưới phù hợp với hoạt động của NHCSXH. - Có khả năng tuyên truyền, vận động. - Có khả năng kiểm tra, giám sát.
Các cán bộ cần phải có sự nhiệt tình, am hiểu nghiệp vụ cho vay của NHCSXH, được NHCSXH tập huấn nghiệp vụ được ủy thác.