Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay hộ nghèo. Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay hộ nghèo tại NHCSXH chi nhánh tỉnh Đắk Nông. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay hộ nghèo tại NHCSXH chi nhánh tỉnh Đắk Nông. Tổng quan tài liệu nghiên cứu - Luận văn tiến sỹ “Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội“ của tác giả Hà Thị Hạnh – nguyên Tổng giám đốc NHCSXH, luận văn đã nhìn nhận rõ hơn về mô hình tổ chức hoạt động cũng nhƣ cơ chế hoạt động của NHCSXH, bảo vệ tại Đại học kinh tế quốc dân năm 2003.
Tác giả đã tập trung nghiên cứu mô hình tố chức hoạt động phù hợp tại Việt nam, trên cơ sở tác giả đã tham khảo học hỏi kinh nghiệm của một số nƣớc có mô hình Ngân hàng giống nƣớc ta. Nhƣng vì đặc thù chính trị và bộ máy quản lý nhà nƣớc khác nhau nên tác giả đã nghiên cứu hoàn thiện từ mô hình Ngân hàng ngƣời nghèo trƣớc kia để mở rộng hơn nữa đáp ứng phục vụ nhân dân đƣợc tốt hơn. - Luận văn Thạc sỹ “Nâng cao chất lượng tín dụng tại đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội” của tác giả Khƣơng Thị Tuyết Minh, bảo vệ tại Đại học Kinh tế quốc dân năm 2007. Luan van 5 Đề tài nghiên cứu của tác giả Khƣơng Thị Tuyết Minh đã nêu lên cơ sở lý luận về đói nghèo, tiêu chí về hộ nghèo, quá trình hình thành và phát triển của NHCSXH, hoạt động cho vay hộ nghèo của NHCSXH Việt Nam, tuy nhiên tính đến năm 2007 chƣơng trình cho vay hộ nghèo của NHCSXH mới thực hiện đƣợc 4 năm, điều kiện kinh tế xã hội của nƣớc ta, kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động cho vay hộ nghèo chƣa nhiều, hơn nữa đứng trên góc độ của NHCSXH Trung ƣơng nên chi đề ra một số giải pháp mang tính tổng quát đối với toàn hệ thống, một số nội dung đặc thù trong cho vay hộ nghèo đối với từng khu vực, từng chi nhánh tác giả cũng chƣa thể đi sâu để phân tích.
- Luận văn Thạc sỹ “Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay tại Chi nhánh NHCSXH tỉnh Quảng Nam” của tác giả Lê Anh Trà, bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng năm 2008. Đề tài của tác giả Lê Anh Trà đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về Ngân hàng chính sách xã hội và hoạt động cho vay của NHCSXH. Luận văn cũng đã nêu một số mô hình tổ chức của hoạt động cho vay hộ nghèo trên thế giới. Đề tài đã khảo sát, đánh giá và phân tích các hoạt động cho vay hộ nghèo theo từng chƣơng trình tại chi nhánh NHCSXH tỉnh Quảng Nam.
Trên cơ sở đó, đề tài đã nêu các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay tại Chi nhánh NHCSXH Quảng Nam. Nhiều nội dung lý luận đã đƣợc tác giả làm rõ các giải pháp có tính khả thi cao. Tuy nhiên, nội dung của đề tài đề cập đến tất cả các hoạt động cho vay của NHCSXH nên bao quát một phạm vi khá rộng. Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ NGHÈO CỦA NHCSXH 1.
NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về hệ thống Ngân hàng Trong nền kinh tế thị trƣờng, hệ thống Ngân hàng thông thƣờng gồm có Ngân hàng Trung ƣơng và hệ thống các Ngân hàng trung gian. Ngoài Ngân hàng Trung ƣơng với các chức năng cơ bản nhƣ: chức năng phát hành tiền; chức năng ngân hàng của các Ngân hàng trung gian; chức năng quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, thanh toán và ngoại hối, tuỳ thuộc bối cảnh kinh tế - xã hội và vì nhiều lý do có tính lịch sử mà mô hình hệ thống ngân hàng trung gian không giống nhau giữa các nƣớc. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào tính chất hoạt động, hệ thống ngân hàng trung gian có thể phân thành các loại hình chủ yếu sau: - Ngân hàng thương mại: là loại hình ngân hàng trung gian phổ biến.
Hiện nay, do sự nới lỏng trong các quy chế quản lý hệ thống tài chính của các nƣớc - mà hệ quả của nó là ranh giới giữa các loại hình trung gian tài chính ngày càng mờ nhạt - nên việc định nghĩa ngân hàng thƣơng mại trở nên rất khó. Thực ra, lúc đầu chƣa có sự phân biệt giữa các loại ngân hàng vì các ngân hàng đều thực hiện những nghiệp vụ giống nhau. Sau đó, ngân hàng thƣơng mại đƣợc định nghĩa nhƣ là những ngân hàng đƣợc phép mở các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn. Tuy nhiên, đặc quyền này đã bị xâm phạm bởi các loại trung gian tài chính khác trong những thập kỷ gần đây.
Vì vậy, ngân hàng thƣơng mại đƣợc định nghĩa nhƣ là một ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuận, kinh doanh tổng hợp hoặc “một loại hình tổ chức tài chính Luan van 7 cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. - Ngân hàng đặc biệt: là những ngân hàng hoạt động không vì lợi nhuận mà chủ yếu nhằm thực hiện các tài trợ ƣu đãi cho các đối tƣợng nhất định theo những chính sách của Nhà nƣớc, phục vụ các định hƣớng can thiệp, điều tiết của Nhà nƣớc đối với thị trƣờng. Một số dạng ngân hàng này nhƣ : Ngân hàng xuất nhập khẩu ở Mỹ, ngân hàng bình dân, ngân hàng địa ốc ở Pháp, ngân hàng phát triển nhà ở của Hàn Quốc. Vốn của Ngân hàng này phần lớn của Nhà nƣớc.
Ngoài ra, ở một số nƣớc trong thời kỳ diễn ra quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã hình thành nên một loại Ngân hàng đặc biệt gọi là Ngân hàng phát triển. Đây là loại ngân hàng có chức năng chủ yếu là huy động vốn trung dài hạn để đầu tƣ trung dài hạn phục vụ nhu cầu phát triển bằng cách cho vay các dự án cơ sở hạ tầng hoặc các lĩnh vực ƣu tiên, hoặc góp vốn, cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nói tóm lại có chức năng hỗ trợ phát triển. - Ngân hàng hợp tác: là các ngân hàng đƣợc thành lập và hoạt động trên cơ sở tƣơng hỗ giữa các thành viên.
Nguồn vốn đƣợc tạo lập chủ yếu từ vốn góp của các thành viên. Sử dụng vốn chủ yếu để cho các thành viên vay. - Ngân hàng đầu tư: Hoạt động của các ngân hàng loại này chủ yếu liên quan đến các dịch vụ về chứng khoán nhƣ tƣ vấn và bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý danh mục đầu tƣ. Có 2 mô hình hoạt động của ngân hàng đầu tƣ: mô hình hoạt động thuần tuý về các dịch vụ chứng khoán nhƣ trên và mô hình kết hợp với các dịch vụ ngân hàng thƣơng mại.
Đối với những ngân hàng đầu tƣ thuộc mô hình thứ nhất, mặc dù có tên gọi ngân hàng nhƣng thực chất chúng không phải là những trung gian tài chính. Do xu hƣớng đa năng hoá, Luan van 8 ranh giới giữa ngân hàng đầu tƣ và ngân hàng thƣơng mại ngày càng không rõ ràng. Ngân hàng chính sách xã hội a. Ngân hàng chính sách xã hội Ngân hàng chính sách là một loại hình ngân hàng đặc biệt, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà để thực hiện các chính sách tín dụng ƣu đãi của Nhà nƣớc đối với một số đối tƣợng cụ thể.
Nền kinh tế thị trƣờng trong quá trình phát triển tuy phù hợp nhƣng cũng có những mặt trái của nó nhƣ: sự phân hóa giàu nghèo, sự thiếu cân bằng trong đầu tƣ,. Nền kinh tế thị trƣờng sẽ tồn tại những ngành hàng, những khu vực, đối tƣợng khách hàng có sức cạnh tranh kém, không đủ các điều kiện để tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại nhƣ các ngành hàng mang tính lợi ích công cộng, những khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện thời tiết khắc nghiệt, chi phí đầu tƣ cao, rủi ro lớn, do đó các Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) rất ít đầu tƣ vào khu vực này, mặt khác nhiều hộ dân, tổ chức kinh tế ở vùng này thiếu vốn nhƣng không đủ các điều kiện để vay vốn các Ngân hàng thƣơng mại. Tuỳ điều kiện và quan điểm của mỗi quốc gia, Chính phủ sẽ thiết lập các kênh tín dụng hoặc các ngân hàng chuyên biệt để thực hiện chính sách cho vay các nhóm đối tƣợng này. Nhƣ vậy, các khoản tín dụng chính sách là các khoản cho vay chỉ định để hổ trợ các chính sách kinh tế và ngành công nghiệp của Chính phủ.
Đây là việc cho vay phi thƣơng mại đối với các hoạt động mà không đáp ứng các tiêu chí thƣơng mại nhƣng lại có tác động xã hội và chính trị quan trọng trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Các Ngân hàng đƣợc thiết lập để chuyên thực hiện tín dụng chính sách của Chính phủ đƣợc gọi là loại hình Ngân hàng Chính sách. Luan van 9 Các mô hình phổ biến trên thế giới về việc hình thành các NH chính sách thƣờng bao gồm hai loại hình chính: - Ngân hàng chính sách phục vụ chính sách phát triển kinh tế theo định hƣớng của Chính phủ, thƣờng đƣợc gọi là Ngân hàng phát triển. - Ngân hàng chính sách phục vụ các chính sách xã hội của Nhà nƣớc thƣờng đƣợc gọi là NH chính sách xã hội.
Đặc thù của Ngân hàng chính sách xã hội - Đặc thù về mô hình tổ chức Ngân hàng chính sách xã hội là một loại hình Ngân hàng đặc thù, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do đó mô hình tổ chức của nó cũng có những đặc điểm riêng. Đối tƣợng phục vụ của Ngân hàng chính sách xã hội là những khách hàng do Chính phủ chỉ định theo chính sách từng thời kỳ. Đây là những khách hàng không có điều kiện tiếp cận với các tổ chức tín dụng thông thƣờng; nói cách khác là các khách hàng phi thƣơng mại không đủ điều kiện vay vốn của các Ngân hàng thƣơng mại. Loại hình Ngân hàng chính sách xã hội chủ yếu là Ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nƣớc, sử dụng một phần nguồn tài chính của Nhà nƣớc tham gia hỗ trợ cho các ngành, các khu vực.