mở đầu khóa luận khái quát thông tin cơ bản về nghiên cứu, bao gồm việc xác định vấn đề, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi và phạm vi nghiên cứu cũng như nội dung cần khám phá. Ngoài ra, tác giả cũng trình bày các lý luận và những vấn đề liên quan đến chủ đề nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng nền tảng thanh toán điện tử trong việc mua sắm của sinh viên”. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm cơ bản 2.
Quyết định Quyết định là một khái niệm trung tâm trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội, từ tâm lý học đến kinh tế học và quản trị kinh doanh. Theo lý thuyết kinh điển, quyết định được định nghĩa là quá trình lựa chọn giữa các phương án hành động khác nhau nhằm đạt được một mục tiêu hoặc kết quả cụ thể (Simon, 1960). Simon nhấn mạnh rằng quyết định không chỉ là việc chọn lựa giữa các tùy chọn có sẵn mà còn bao gồm cả quá trình xây dựng các tùy chọn đó. Ra quyết định là một kỹ năng quan trọng, đóng vai trò trung tâm trong cuộc sống hàng ngày và cần thiết cho việc thích nghi với môi trường cũng như sự tự chủ, là khả năng lựa chọn giữa hai hoặc nhiều lựa chọn (Morelli, Casagrande và Forte, 2022).
Và theo Asikhia và cộng sự (2021), ra quyết định là một hoạt động có từ lâu đời do các cá nhân hoặc công chúng thực hiện với tư cách cá nhân hoặc ở vị trí lãnh đạo trong tổ chức. Điều này có sự liên quan mật thiết đến sự khác biệt giữa một tổ chức thành công hoặc kém thành công, xa hơn nữa là sự phát triển hay sụp đổ của một quốc gia. Tóm lại, quyết định là một quá trình phức tạp, liên quan đến các yếu tố như nhận thức cá nhân đến các yếu tố đến từ tổ chức và văn hóa. Hiểu rõ về quyết định và quá trình ra quyết định có thể hỗ trợ những người liên quan giải quyết vấn đề hiệu quả hơn, đặc biệt là trong kinh doanh hoặc chính sách công.
Thanh toán điện tử Thanh toán điện tử đề cập đến phương thức thanh toán trong đó dữ liệu thanh toán và hướng dẫn được truyền qua các thiết bị điện tử, chẳng hạn như trợ lý 12 điện tử cá nhân hay điện thoại di động (Sahi và cộng sự, 2022). Shon và Swatman (2013) cho rằng thanh toán điện tử là bất kỳ hệ thống thanh toán thông thường hoặc mới nào cho phép thực hiện các giao dịch tài chính một cách an toàn từ tổ chức hoặc cá nhân này sang tổ chức hoặc cá nhân khác qua Internet. Thanh toán điện tử được thiết kế để hỗ trợ cho người tiêu dùng chủ yếu về mặt tiện lợi và giảm chi phí giao dịch. Giao diện người dùng cho phép khách hàng kiểm tra và thao tác các giao dịch của họ từ xa.
Điều này được hỗ trợ bởi sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ băng thông rộng và tỷ lệ thâm nhập (Ming‐Yen Teoh và cộng sự, 2013). Thanh toán điện tử được hiểu là việc chuyển khoản từ tài khoản này sang tài khoản khác thông qua các nền tảng đặc biệt, các nền tảng này hỗ trợ người dùng truy cập, quản lý thông qua mạng điện tử. Ngoài ra, thanh toán điện tử còn được gọi là thanh toán không tiền mặt, tức có sự đa dạng hơn về phương thức thanh toán so với giao dịch tiền mặt truyền thống. Các phương thiện thanh toán phổ biến ứng dụng nghệ số, tiêu biểu có thể nhắc đến như : ví điện tử Momo, VNPay , Mobile Banking, Internet Banking ,….hay thanh toán gián tiếp thông qua các tổ chức tín dụng.
Với những khả năng mà Internet mang lại, một thế hệ thanh toán mới đã ra đời, bao gồm thanh toán điện tử hay còn gọi là thanh toán ảo. Hiện nay, với sự gia tăng đáng kể của điện thoại di động và sự phát triển của thương mại di động, thanh toán di động đang dần trở thành một phương thức thanh toán hàng hóa phổ biến. Các phương thức thanh toán di động, dù đã được sử dụng hay đang trong giai đoạn thử nghiệm, có thể được phân loại dựa trên cơ sở của hình thức thanh toán. Một giao dịch thanh toán có thể được xác định theo nhiều chiều khác nhau, bao gồm vị trí, thời gian, quy mô, và phương tiện.
Quyết định sử dụng nền tảng thanh toán điện tử Quyết định sử dụng thanh toán điện tử là hành vi người tiêu dùng lựa chọn sử dụng các nền tảng thanh toán điện tử thay vì sử dụng tiền mặt khi thanh toán hóa đơn hay mua sắm hàng hóa (Nguyen, 2023) Hành vi người tiêu dùng là các hoạt động mà họ thực hiện trong quá trình tìm kiếm, mua, sử dụng, và đánh giá các sản phẩm và dịch vụ mà họ kỳ vọng sẽ thỏa mãn các nhu cầu cá nhân (Bennet, 1988). (Octaviani và cộng sự, 2022; Sun và cộng sự, 2019) cho rằng các yếu tố trong mô hình Chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) có tác động trực tiếp đến quyết định sử dụng. Nghiên cứu này cũng sẽ sử dụng mô hình UTAUT nhằm kiểm định liệu những yếu tố đấy liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định sử dụng thanh toán điện tử của sinh viên. Tổng quan các nghiên cứu 2.
Tổng quan lý thuyết Mô hình Chấp nhận và Sử dụng Công nghệ Thống nhất ( UTAUT – Unified Theory of Acceptance and Use of Technology) Hình 2. Mô hình Chấp nhận và Sử dụng Công nghệ Thống nhất UTAUT 14 Mô hình Chấp Nhận và Sử dụng Công nghệ Thống nhất ( UTAUT) được phát triển bởi Venktesh và cộng sự vào năm 2003, cung cấp cái nhìn tổng hợp về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng công nghệ thông qua ý định. Mô hình này là sự tổng hợp từ các nghiên cứu trước đó nhằm tạo ra một khung lý thuyết toàn diện hơn. Hiệu suất kỳ vọng : mức độ người dùng tin rằng sử dụng công nghệ sẽ cải thiện hiệu suất công việc của họ.
Tương đương với khái niệm Giá trị dự kiến của mô hình TAM. Nỗ lực kỳ vọng : mức độ người dùng tin rằng sử dụng công nghệ sẽ không yêu cầu nhiều nỗ lực. Đây tương đương với khái niệm Độ dễ dàng sử dụng dự kiến của mô hình TAM. Ảnh hưởng xã hội: mức độ người dùng cảm thấy những người quan trọng đối với họ tin rằng họ sẽ sử dụng công nghệ.
Khái niệm này tương tự Chuẩn chủ quan trong TRA và TAM. Điều kiện hỗ trợ: mức độ cơ sở hạ tầng và các nguồn lực sẵn có để sử dụng công nghệ. Yếu tố này phản ánh những điều kiện cần thiết để công nghệ được sử dụng một cách hiệu quả Thuyết hành động hợp lí (TRA - Theory of Reasoned Action) Hình 2. Thuyết hành động hợp lý TRA 15 Mô hình Thuyết Hành động Hợp lý (TRA), do Martin Fishbein và Icek Ajzen phát triển vào năm 1975, cho rằng hành vi của con người được xác định bởi hai yếu tố chính: thái độ cá nhân và chuẩn mực chủ quan.
Theo lý thuyết này, hành vi của mỗi cá nhân không chỉ phụ thuộc vào niềm tin cá nhân mà còn bị ảnh hưởng bởi quan điểm và sự kỳ vọng của người khác. TRA có ưu điểm nổi bật là giải thích được lý do tại sao con người lại hành động theo một cách cụ thể trong các tình huống khác nhau. Thái độ: đánh giá chủ quan của một cá nhân về một hành vi nhất định, dựa trên góc nhìn cá nhân. Nó phản ánh việc cá nhân đó coi hành vi là cùng chiều hay ngược chiều, và liệu hành vi đó có mang lại những kết quả mà họ mong muốn hay không.
Chuẩn chủ quan: tổng hợp quan điểm của những người quan trọng trong cuộc sống của cá nhân (ví dụ: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp). Nó thể hiện liệu cá nhân có nghĩ rằng những người này muốn họ thực hiện một hành vi nào đó hay không. TRA nhấn mạnh rằng hành vi của một người không chỉ được quyết định bởi nhận thức cá nhân mà còn bởi áp lực xã hội từ những người có ảnh hưởng trong cuộc sống của họ. Các nghiên cứu liên quan 2.
Các nghiên cứu ngoài nước Bob Foster, Ratih Hurriyati, và Muhamad Deni Johansyah (2022) với nghiên cứu “Ảnh hưởng của kiến thức về sản phẩm, lợi ích cảm nhận được và nhận thức về rủi ro đến quyết định sử dụng ví điện tử của sinh viên Indonesia tại Warunk Upnormal”. Nghiên cứu sử dụng mô hình TAM nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng ví điện tử Gopay của SV Indonesia. Với dữ liệu thu thập từ 100 sinh viên đã dùng ví điện tử Gopay với ba biến được xem xét bao gồm nhận thức về lợi ích, nhận thức về rủi ro và kiến thức về sản phẩm.Thông qua 16 nghiên cứu, hai yếu tố ảnh hưởng cùng chiều đến quyết dịnh sử dụng ví Gopay là nhận thức rủi ro và kiến thức về sản phẩm, nhận thức về lợi ích có tác động ngược chiều nhưng không đáng kể. Kadi và Firdausi (2023) với nghiên cứu “Ảnh hưởng của các yếu tố dịch vụ, khuyến mãi, tiện lợi và giá cả đến quyết định sử dụng”.
Tác giả đã thực hiện bài nghiên cứu nhằm tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng ví điện tử Dana của người dân tại thành phố Madiun, Indonesia. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với 384 người tham gia khảo sát. Có tất cả 4 yếu tố đã được xem xét, bao gồm: tính năng, khuyến mãi, tiện lợi, giá cả. Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả yếu tố trên đều có ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định sử dụng ví điện tử Dana của người dân.
Sudirjo và cộng sự (2023) với đề tài ” Phân tích ảnh hưởng của lợi ích cảm nhận của khách hàng, sự dễ sử dụng và khuyến mãi bán hàng đến quyết định sử dụng ví điện tử của khách hàng ShopeePay”. Nghiên cứu kế thừa, ứng dụng Mô hình TAM, Lý thuyết TRA nhằm khám phá mối quan hệ của các yếu tố như sự tiện lợi, tiện ích và khuyến mãi với quyết định sử dụng ví điện tử ShopeePay. Dựa trên phân tích mẫu từ 250 người dùng, kết quả nghiên cứu cho thấy việc lựa chọn sử dụng ví điện tử bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự tiện lợi, khuyến mãi và tiện ích. Humbani và Wiese (2017) với nghiên cứu “Một xã hội không tiền mặt cho tất cả: Xác định mức độ sẵn sàng của người tiêu dùng trong việc áp dụng thanh toán di động”.