CHƯƠNG 1: Tổng quan nghiên cứu. CHƯƠNG 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. CHƯƠNG 3: Thiết kế nghiên cứu. CHƯƠNG 4: Kết quả nghiên cứu.
CHƯƠNG 5: Kết luận và hàm ý của nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu về thương mại điện tử 2.1 Thương mại điện tử Lịch sử của TMĐT bắt đầu từ lần bán hàng trực tuyến đầu tiên: vào ngày 11 tháng 8 năm 1994, một người đàn ông đã bán một đĩa CD của ban nhạc Sting cho bạn mình thông qua website NetMarket, một nền tảng bán lẻ của Mỹ. Đây là ví dụ đầu tiên về việc người tiêu dùng mua sản phẩm từ một doanh nghiệp thông qua World Wide Web và hoặc TMĐT trực tuyến như chúng ta thường biết ngày nay. Mua sắm trực tuyến chỉ mới hơn 20 tuổi, trong khi các cửa hàng ngoại tuyến đã được xây dựng hàng ngàn năm (Hansemark and Albinsson, 2004; Horner et al.
Mua sắm trực tuyến là một mô hình hoặc trải nghiệm mua sắm mới. Tuy nhiên, nó đã trở nên ngày càng quan trọng liên quan đến cạnh tranh thị trường hiện tại với sự lan rộng của việc sử dụng Internet. Là một xu hướng mua sắm mới, nó khác với trải nghiệm mua sắm truyền thống về một số khía cạnh (Ansari et al., 2008; Kusum and Farris, 2017). Thứ nhất là địa điểm giao dịch: Khách hàng có xu hướng chọn một cửa hàng gần đó khi mua sắm trực tiếp , trong khi mua sắm trực tuyến có phạm vi trên toàn thế giới và được sử dụng bất cứ lúc nào (24/7).
Thứ hai, đối với cửa hàng trực tuyến không có cửa hàng thực tế, các thay đổi có thể được thực hiện bất cứ lúc nào. Có thể nhanh chóng thay đổi theo điều kiện thị trường. Tuy nhiên, việc thiết lập một cửa hàng ngoại tuyến tốn thời gian và tiền bạc. Thay đổi và sửa đổi là khá khó khăn.
Thứ ba, đối với khách hàng, mua sắm trực tuyến có rủi ro vì hầu hết các nhà cung cấp không có cửa hàng thực tế. Phụ thuộc vào chính sách của nhà cung cấp khách hàng hoàn toàn có thể kiểm tra trước khi nhận hàng hoá. Cuối cùng, dịch vụ trước, trong và sau khi mua sắm trực tuyến và ngoại tuyến cũng khác nhau. Ngày nay, thương mại điện tử càng phát triển mạnh mẽ nhất là từ khi đại dịch Covit-19 xuất hiện, thương mại điện tử xã hội cũng từ đó trở thành xu hướng quan trọng trong lịch vự này.
Các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Instagram và Tiktok đã phát triển tính năng mua sắm tích hợp, cho phép người dùng khám phá và mua sản phẩm từ các bài đăng và quảng cáo trên mạng xã hội. Khái niệm về thương mại điện tử Thương mại điện tử là sự mua bán sản phẩm bằng phương pháp điện tử, là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử mà không thể hiện các văn bản giao dịch trên giấy (nên còn được gọi là “thương mại không giấy tờ”). Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO), thuật ngữ 'thương mại điện tử' được hiểu là hoạt động sản xuất , phân phối, tiếp thị, bán hoặc giao hàng hóa, dịch vụ bằng phương tiện điện tử. Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC): “TMĐT liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet.
Các kỹ thuật thông tin liên lạc có thể là email, EDI, Internet và Extranet có thể được dùng để hỗ trợ TMĐT”. Theo Ủy ban Châu Âu: “Thương mại điện tử có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay 7 các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thuật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công”. Theo Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT, “hoạt động TMĐT là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”.
Tóm lại: Thương mại điện tử là phương thức kinh doanh dựa trên nền tảng của công nghệ thông tin và mạng Internet. Thương mại điện tử là một mô hình kinh doanh phát triển mạnh mẽ trong thời đại công nghệ 4.3 Các loại hình thương mại điện tử Dựa vào chủ thể của TMĐT, có thể phân chia TMĐT ra 5 loại hình phổ biến như sau: Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp-B2B (business to business) Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng-B2C (business to consumer) Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước-B2G (business to government) Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau-C2C (consumer to consumer) Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân-G2C (government to consumer) 8 B2B là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa các doanh nghiệp với nhau, chẳng hạn như giao dịch giữa nhà sản xuất và nhà phân phối, nhà phân phối với nhà bán lẻ. Các doanh nghiệp có thể chào hàng, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng, thanh toán qua trực tuyến. TMĐT B2B đem lại nhiều lợi ích thực tế cho doanh nghiệp như tiết kiệm thời gian và chi phí, tăng hiệu quả và cơ hội hợp tác, quy mô đơn đặt hàng lớn.
B2C là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng( người dùng cuối) qua các phương tiện điện tử. Để tham gia hình thức kinh doanh này, thông thường doanh nghiệp sẽ thiết lập website, hình thành cơ sở dữ liệu về hàng hoá, dịch vụ; tiến hành các quy trình quảng cáo, phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng. TMĐT B2C đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Doanh nghiệp tiết kiệm nhiều chi phí liên quan đến cơ sở hạ tầng, điện nước, nhân viên, phạm vi tiếp cận rộng hơn vì càng có nhiều người sử dụng mạng xã hội mua hàng trực tuyến, hầu hết các cửa hàng trực tuyến đều có thể nhận hơn cả ngày(24/24).
Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải tới tận cửa hàng, có khả năng lựa chọn, so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc và mua bất kỳ thời điểm nào trong ngày. B2G là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp với chính phủ hoặc khối hành chính công. Quá trình trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp với chính phủ được tiến hành qua các phương tiện điện tử. Chính phủ cũng có thể thiết lập những website tại đó đăng tải thông tin về nhu cầu mua hàng, tiến hành việc đấu thầu hàng hoá, dịch vụ và lựa chọn nhà cung cấp trên website.
Điều này một mặt giúp tiết kiệm các chi phí tìm nhà cung cấp, đồng thời giúp tăng cường tính minh bạch trong hoạt động mua sắm công. C2C là loại hình kinh doanh mà trong đó người tiêu dùng sẽ bán sản phẩm/ dịch vụ cho người tiêu dùng khác thông qua một nền tảng trung gian thứ 3 như website, fanpage hoặc sàn thương mại điện tử. Bên thứ 3 sẽ không trực tiếp thực hiện giao dịch hay bán sản phẩm mà họ sẽ tạo môi trường giao dịch, theo dõi trạng thái giao dịch, cung cấp dịch vụ thanh toán hoặc đẩy mạnh khả năng tiếp cận khách hàng, chạy quảng cáo. Một số mô hình C2C dễ dàng thấy hiện nay như là Shopee, Tiki, Lazada, TikTok Shop.
Ưu điểm của C2C là đem lại lợi ích cho người bán, người mua lẫn nền tảng trung gian thứ 3. TMĐT C2C hầu hết hoạt động theo hình thức online nên các cá nhân có thể tạo một cửa hàng trực tuyến tại nhà với số vốn bỏ ra không quá nhiều vì tiết kiệm được chi phí thuê mặt bằng, nhân viên, phí sửa chữa,…Hơn hết, một số nền tảng C2C tích hợp thanh toán trước nên người bán có thể thu nhập thụ động bởi C2C hoạt động 24/24. Người mua có nhiều sự lựa chọn,mua sắm mọi lúc, mọi nơi, nhiều ưu đãi và chương trình khuyến mãi hấp dẫn,…Đối với bên trung gian tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh và kiếm lợi nhuận từ việc thu hoa hồng qua các dịch vụ tiện ích như chạy quảng cáo hay phí giao dịch mỗi lần người bán bán hàng có thể dao động từ 1-5%. G2C là loại hình giao dịch giữa chính phủ với công dân hoặc cá nhân riêng lẻ.Các cơ quan chính phủ ứng dụng một cách có hệ thống công nghệ thông tin vào các hoạt động của chính phủ trên nền tảng như Website.
Ví dụ thanh toán thuế, trả phí khi đăng ký hồ sơ trực tuyến, các chiến dịch truyền thông, dịch vụ thông tin trực tuyến 24/24, môi trường 9 giáo dục, nộp phạt và nộp nhận xét cho các quan chức chính phủ v.v…Nhằm đảm bảo mối quan hệ tốt đẹp giữa chính phủ và công dân. Giúp người dân tiết kiệm thời gian và chi phí trong quá trình thực hiện các hoạt động của chính phủ đề ra.4 Lợi ích của thương mại điện tử Lợi ích đối với các tổ chức - Mở rộng thị trường:Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại truyền thống, các công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận người cung cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới. Việc mở rộng mạng lưới nhà cung cấp, khách hàng cũng cho phép các tổ chức có thể mua với giá thấp hơn và bán được nhiêu sản phẩm hơn. - Giảm chi phí sản xuất: Giảm chi phí giấy tờ, giảm chi phí chia xẻ thông tin, chi phí in ấn, gửi văn bản truyền thống.
- Cải thiện hệ thống phân phối: Giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong phân phối hàng. Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên mạng, ví dụ ngành sản xuất ô tô (Ví dụ như Ford Motor) tiết kiệm được chi phí hàng tỷ USD từ giảm chi phí lưu kho. - Vượt giới hạn về thời gian: Việc tự động hóa các giao dịch thông qua Web và Internet giúp hoạt động kinh doanh được thực hiện 24/7/365 mà không mất thêm nhiều chi phí biến đổi. - Sản xuất hàng theo yêu cầu: Còn được biết đến dưới tên gọi “Chiến lược kéo”, lôi kéo khách hàng đến với doanh nghiệp bằng khả năng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng.
Một ví dụ thành công điển hình là Dell Computer Corp.