Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương II: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu Chương III: Thực trạng và kết quả nghiên cứu Chương IV: Định hướng và giải pháp đối với đổi mới quản trị đại học tại một số trường Đại học tại Thành phó Hà Nội CHUONG I. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Với nghiên cứu của Mueller (1998), ban quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc xác định và hiéu những phát triên chính của các tô chức học thuật như đại học. Ban quản lý cần phải hành động thông qua các chính sách hoặc thông qua những thay đổi trong hành vi quản lý để tăng cường hoạt động hiệu quả và để đạt được mục tiêu.
Theo Zajkowski (2003), trong bài nghiên cứu “Cơ cấu thể chế và giám đốc nghiên cứu Úc: một nghiên cứu định tính” tìm hiểu xem vị trí của một trung tâm nghiên cứu đại học trong cơ cấu tổ chức của nó có thể hỗ trợ hoặc cản trở công việc của giám đốc như thế nào, đề cập đến VIỆC nguồn tài trợ của chính phủ cho các cơ sở giáo dục đại học thường hay hạn chế. Do đó việc duy trì sự độc lập về tài chính là cực kỳ quan trọng. Với nghiên cứu của Min Hong (2018), trong bài nghiên cứu “Quản trị đại học công lập ở Trung Quốc và Úc: một nghiên cứu so sánh” có thé thấy hiện nay, các xu thế thường thấy trong GDĐH bao gồm: giáo dục toàn diện và đa dang, thúc day năng lực nghiên cứu, và phát triển GDĐH như một mô hình doanh nghiệp nhỏ. Mức độ phụ thuộc của quản trị đại học vào các cơ quan quản lý sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào các nhóm yếu tổ sau: (1) thể chế chính tri, (2) văn hóa - xã hội, (3) định hướng phát triển của nhóm QTDH, và (4) nguồn lực tài chính Theo Can Chen (2019), với “Nghiên cứu thực trạng và biện pháp quản lý giáo dục đại học”, đã chỉ ra cần phải thực hiện cải cách, đổi mới có mục tiêu ở các trường cao đẳng, đại học.
Cần phân chia trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan hành chính cấp bậc và nhân viên hành chính, xây dựng lại hệ thống quản lý phối hợp và hợp tác giữa các tổ chức. Đồng thời cần trú trọng mục tiêu phát triển quản lý hành chính liên quan đến việc giáo dục và giảng dạy, tuyển dụng và tuyền sinh. Theo Lê Duy Anh (2020) trong “Kinh nghiệm phát triển hệ thống giáo dục đại học chất lượng cao của Trung Quốc và một số câu hỏi cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam” đã chỉ ra được các đặc điểm của hệ thống GDĐH Trung Quốc, con đường xây dựng đại học đẳng cấp thế giới của Trung Quốc bằng cách đầu tư vào một số chương trình và chiến lược dé xây dựng các trường đại học nghiên cứu ding cấp quốc tế, cải cách các lĩnh vực tỉnh hoa của hệ thống giáo dục,. và đã nêu ra ba câu hỏi đề xuất để các nhà quản lý hệ thống GDĐH Việt Nam có thể cân nhắc từ kinh nghiệm của Trung Quốc.
Nghiên cứu trong nước Trong “Quản trị đại học và mô hình cho trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam” của GS.Phong va TS.Nhut (2013) cho thấy tự chủ đại học là việc tất yếu, đồng thời chỉ ra được những đặc thù của trường đại học khối kinh tế và đề xuất một mô hình nhằm nâng cao hiệu quả quản trị đại học. Theo Đinh Ái Linh (2014) trong “Kinh nghiệm 8 quốc gia xây dựng đại học đẳng cấp thế giới” nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng đại học theo đăng cấp thế giới của 8 quốc gia là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, An Độ, Đức, Pháp, Nga, Canada cho thấy các nước đều tập trung vào việc thực hiện và xây dựng dự án đại học đăng cấp thế giới. Các nước đều nhận thức rằng tri thức quyết định sự tăng trưởng kinh tế và cạnh tranh toàn cầu. Các quốc gia đều tập trung tăng kinh phí đầu tư vào giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học ở các trường đại học và day mạnh hợp tác với các trường đại học trên thé giới.
Trong bài nghiên cứu “Hai van đề của quản trị Đại học ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” của Trịnh Ngọc Thạch (2017) chỉ ra rằng trong quá trình đổi mới GDDHở Việt Nam nhiều vấn dé đã được hiện diện va hai van đề nồi bật được thảo luận nhiều là về tự chủ đại học và đầu tư tài chính cho đại học. Tự chủ đại học hiện nay còn tồn tại hai bat cập khiến cho tự chủ đại học khó đạt hiệu quả là (1) hội đồng. trường (đối với trường công) mang tính hình thức và (2) cơ chế bộ chủ quản làm triệt tiêu tính năng động, sáng tạo và hạn chế quyền tự chủ của cơ sở giáo dục. Theo Nguyễn Đăng Minh (2018) với “Xây dựng mô hình quản trị đại học tinh gọn tại Việt Nam” chỉ ra phương thức quản trị đại học của Việt Nam hiện nay chậm thay đổi so với yêu cầu của nền kinh tế - xã hội.
Phương pháp quản trị đang được áp dụng tại các trường đại học hiện nay đã không còn phù hợp với mô hình nền kinh tế thị trường và tác giả đề xuất nên xây dựng mô hình quản trị đại học tỉnh gọn tại Việt Nam. Bài nghiên cứu “Quản trị giáo dục đại học — Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” của Phạm Thị Thanh Hải và cộng sự (2019), chỉ ra Chính phủ nhận thấy mô hình tập trung hoá không còn phủ hợp với hệ thống GDĐH của Việt Nam hiện nay. Đổi mới quản trị đại học với trọng tâm là tăng cường quyền tự chủ ở các trường đại học công lập ở Việt Nam đang là xu hướng tat yếu. Nền GDĐH ở Việt Nam còn tồn tai một số van đề cần giải quyết như: các cơ sở GDĐH Việt Nam hiện nay chịu sự quản lý từ quá nhiều cơ quan nhà nước về các trang ngân sách, quản lý, chuyên môn và việc thành lập hội đồng trường còn chưa thực hiện được hiệu quả.
Theo “Quản trị đại học: Kinh nghiệm của Hoa Kỳ và bài học cho Việt Nam” của ThS. Nguyễn Đồng Anh Xuân (2019) chỉ ra các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam đang chuyền dần từ mô hình Nhà nước kiểm soát sang mô hình Nhà nước giám sát với quyền tự chủ đại học ngày càng mở rộng. Bên cạnh đó, nêu ra mô hình quản trị đại học của Hoa Kỳ từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm dành cho Việt Nam. Trong “Quản trị đại học theo tỉnh thần doanh nghiệp: Nghiên cứu điển hình một số trường đại học khối ngành kinh tế-kinh doanh trên địa bàn Hà Nội” của Phùng Thế Vinh (2020) đã chỉ ra các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến quản trị đại học theo tỉnh thần doanh nghiệp như: (1) Chính sách của nhà nước; (2) Sự phát triển của thị trường giáo dục; (3) Sự hội nhập quốc tế.
Đồng thời các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản trị đại học có thể kể đến như: qd) Tổ chức bộ máy; (2) Nhân lực; (3) Tài chính; (4) Cơ sở vật chất; (5) Các quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế. Trong bài nghiên cứu “Tự chủ đại học ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp” của Vũ Tiến Dũng (2021) chỉ ra được thực trạng hiện nay của tự chủ đại học tại Việt Nam. Tự chủ đại học là điều kiện cần thiết để thực hiện các phương thức quản trị đại học tiên tiến nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo. Tự chủ đại học cũng là xu hướng tat yếu dé cạnh tranh giữa các trường đại học.
Tự chủ đại học ở Việt Nam được quy định trên ba phương diện chủ yếu là: (1) Tự chủ về chuyên môn và học thuật, (2) Tự chủ về tổ chức và nhân sự, (3) Tự chủ về tài chính và tài sản. Và đã đề ra các giải pháp về phía các cơ quan chức năng và về phía các trường đại học. Theo “Những nguyên tắc của quản trị đại học tiên tiến và hàm ý chính sách cho Việt Nam” của Đinh Văn Toàn (2021) chỉ ra mô hình quản trị đại học ở một số quốc gia, các nguyên tắc của quản tri đại học tiên tiến bao gồm: (1) Tính quan ly, (2) Tính tham gia, (3) Tính minh bạch, (4) Tính tự chủ va (5) Trách nhiệm giải trình. Chỉ ra những thách thức và gợi ý cho xây dựng khung chính sách quản lý các trường đại học tại Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu Ở Việt Nam có một sự thiếu hụt về số lượng nghiên cứu liên quan đến đề ay. Đổi mới quan trị đang là một vấn đề mới, hiện nay được rất nhiều người quan tâm đến nhưng các nghiên cứu chuyên sâu về các nhân tố tác động đến đổi mới quản trị đại học tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Điều này đã làm cho. đổi mới quản trị đại học chưa được biết đến rộng rãi cũng như là chưa có đánh giá chính xác về mức ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới quản trị đại học tại Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng.
Với những thách thức cũng như sự tiến bộ vượt bậc của thời đại trong nhiều lĩnh vực như khoa học - công nghệ, kinh tẾ,. đã đặt ra nhiều thách thức cho các trường đại học tại Việt Nam phải thay đổi, phải đổi mới không ngừng dé theo kịp và phù hợp với thời đại ngày nay. Chính vì vậy, việc đổi mới mô hình quản trị đại học tại Việt Nam là rất cần thiết để phù hợp với xu thế phát triển của GDĐH trên thế giới. Hiện nay, mỗi quốc gia đang hướng tới công cuộc xây dựng đất nước vững mạnh, phát triên nền kinh tế và công bằng xã hội.
Vì vậy, việc tìm hiêu và đánh giá xem liệu nền kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia có đang ảnh hưởng đến quyết định đổi mới đại học ở các trường đại học hay không là rat quan trong. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa thị trường giáo dục hiện nay và quyết định đổi mới quản trị đại học cũng là một vấn đề cần nghiên cứu. Vai trò của nhà trường chưa thực sự cụ thể, rõ ràng trong công tác đổi mới quản trị đại học. Sinh viên thường có nhu cầu được nâng cao chất lượng giảng dạy ở ngôi trường mình đang theo học, môi trường và cách dạy có sự thay đổi để phù hợp với thời đại ngày nay.