Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nội dung nghiên cứu, bao gồm vấn đề nghiên cứu, lý do nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu… Chương 2: Cơ sở lý thuyết của đề tài, các nghiên cứu trước trong và ngoài nước. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu, bao gồm giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu Chương 5: Rút ra kết luận và các mặt hạn chế. 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU Trong chương này, nghiên cứu trình bày các lý thuyết nền tảng cho vấn đề nghiên cứu của luận văn. Bên cạnh đó, nghiên cứu trình bày các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Và cuối cùng là sự khác biệt của nghiên cứu so với các nghiên cứu trước đó.1 Khái niệm, động cơ và phương pháp quản trị lợi nhuận 2.1 Khái niệm quản trị lợi nhuận Quản trị lợi nhuận (Earning management) là một sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt những mục đích cá nhân (Schipper, 1989). Quản trị lợi nhuận (Earning management) xảy ra khi nhà quản trị sử dụng các ước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ tác động đến báo cáo tài chính, nhằm làm cho đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính hiểu sai về hoạt động kinh doanh thực của doanh nghiệp (Haley và Whalen, 1999). Ronen và Yarri (2008) cho rằng định nghĩa của Healy và Wahlen là thực tiễn của việc sử dụng các thủ thuật để xuyên tạc hoặc làm giảm tính minh bạch của báo cáo tài chính. Đồng thời, Ronen và Yaari (2008) lập luận rằng có 2 điểm yếu trong định nghĩa của Healy và Wahlen (1999).
Thứ nhất, định nghĩa của Healy và Wahlen (1999) không phân biệt ranh giới giữa quản trị lợi nhuận và việc lựa chọn chính sách kế toán trong hoạt động kinh doanh của công ty. Thứ hai, quản trị lợi nhuận không phải lúc nào cũng tiêu cực. Các công ty không phải lúc nào cũng quản trị lợi nhuận để tác động đến nhà đầu tư, hoạt động quản trị lợi nhuận đôi khi để nâng cáo giá trị thông tin của các khoản lợi nhuận của công ty (Ronen và Yarri, 2008). Theo Ronen và Yarri (2008) quản trị lợi nhuận được định nghĩa theo 3 màu sắc.
Cụ thể là: trắng, xám và đen. Những màu sắc này đại diện cho hình thức quản trị lợi nhuận khác nhau. Màu trắng, quản trị lợi nhuận sử dụng sự linh hoạt trong lựa chọn 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu chính sách kế toán để báo hiệu cho nhà quản lý về các dòng tiền trong tương lai. Màu xám, quản trị lợi nhuận lựa chọn chính sách kế toán, chính sách quản trị để tối tiểu hóa các chi phí quản trị.
Màu đen, quản trị lợi nhuận sử dụng các thủ thuật để xuyên tạc hoặc làm giảm tính minh bạch của báo cáo tài chính.2 Động cơ quản trị lợi nhuận Nhà quản trị muốn tối đa hóa lương, thưởng, lợi ích cá nhân. Nếu trả lương hoặc thưởng cho nhà quản trị gắn với tỷ lệ % lợi nhuận kế toán thì nhà quản trị có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận. Vì tỷ lệ % là không đổi nên muốn được lương và thưởng nhiều thì nhà quản trị có động cơ để điều chỉnh lợi nhuận tăng. Nghiên cứu của Cheng và Warfield (2005), Cohen và ctg (2008) cho thấy rằng quản trị lợi nhuận sẽ tăng lên nếu có liên quan đến việc trả lương, thưởng, cổ phần vốn, quyền chọn cổ phiếu.
Một nghiên cứu khác của Guidry và ctg (1999) đã chỉ ra rằng nhà quản trị thực hiện quản trị lợi nhuận để làm cho lợi nhuận của công ty duy trì ở 1 mức nào đó. Trong đó những khoản lợi nhuận bất thường vượt trội được tích trữ cho tương lai. Theo Reitenga và Tearney (2003) thì một nhà quản trị có thể điều chỉnh các khoản lợi nhuận để đảm bảo anh ta sẽ có một công việc tốt hơn sau khi rời khỏi công ty. Còn Pourciau (1993) cho rằng các nhà quản trị làm tăng thu nhập để che giấu sự yếu kém của bản thân và sự yếu kém đó có thể dẫn đến việc các nhà quản trị đó bị sa thải.
Ngoài ra, nghiên cứu của Francis và ctg (1996) cho rằng các nhà quản trị mới được bổ nhiệm thường ghi nhận những khoảng lỗ lớn trong năm đầu tiên họ đương nhiệm. Chính khoản lỗ lớn này có thể là một nguồn tăng lợi nhuận trong những năm sau. Khi đó nhà quản trị sẽ khẳng định đó là năng lực bản thân, còn những khoản lỗ trước là do người tiền nhiệm. Tránh vi phạm hợp đồng đi vay Các công ty gần đến mức vi phạm hợp đồng nợ thì việc quản trị lợi nhuận tăng cao (Dichew và Skinner, 2002).
Dichew và Skinner (2002) lập luận rằng: nếu vi phạm hợp đồng vay thì các chủ nợ có thể tăng lãi suất, yêu cầu công ty trả ngay lập tức và nghiêm 8 Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu trọng hơn là việc vi phạm này có thể ảnh hưởng đến khả năng đi vay vốn sau này của công ty. Hưởng những quy định về thuế hoặc quy định cụ thể về ngành Moyer (1990) cho thấy rằng các ngân hàng thương mại quản trị lợi nhuận (thông qua việc điều chỉnh dự phòng rủi ro, các khoản nợ, lãi hay lỗ từ chứng khoán đang nắm giữ) để giữ cho tỷ lệ an toàn vốn cao hơn mức yêu cầu tối thiểu của ngành ngân hàng. Đáp ứng kỳ vọng của giới phân tích thị trường Đáp ứng lại ngưỡng yêu cầu của thị trường Nhà quản trị có động lực mạnh mẽ để đáp ứng hoặc vượt qua các tiêu chuẩn, bao gồm thu nhập năm trước, dự báo sự đồng thuận của giới phân tích và dự kiến chi trả cổ tức (Burgstahler và Dichev, 1997). Phát hành cổ phiếu Trước khi phát hành cổ phiếu ra thị trường thì các công ty sẽ có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận tăng để cổ phiếu có giá hơn.
Teoh và ctg (1998a, 1998b) tìm thấy bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp tham gia vào việc quản trị lợi nhuận tăng trước khi IPO và SEO Xác nhập công ty Quá trình xác nhập công ty bằng cổ phiếu thì công ty mua lại công ty khác sẽ có động cơ lớn để điều chỉnh lợi nhuận tăng nhằm thổi phồng giá cổ phiếu của nó. Erickson và Wang (1999), Botsari và Meeks (2008) đã tìm thấy bằng chứng về điều chỉnh lợi nhuận trước khi mua bán và sáp nhập bằng cổ phiếu. Cổ phiếu bị định giá sai Công ty bị định giá quá cao sẽ làm tăng lợi nhuận trong ngắn hạn để tránh 1 sự điều chỉnh giá đột ngột (Houmes và Skantz, 2010; Chi và Gupta, 2009). 9 Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 2.3 Phương pháp quản trị lợi nhuận Theo Biscontri (2014) lợi nhuận bao gồm các khoản dồn tích và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, vì vậy các công ty có hai phương pháp để quản trị lợi nhuận.
Thứ nhất, các công ty có thể quản trị lợi nhuận thông qua việc làm sai lệch các hoạt động kinh doanh thực, do đó dòng tiền từ hoạt động kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng. Làm sai lệch hoạt động kinh doanh thực để quản trị lợi nhuận được gọi là quản trị lợi nhuận thực (Rowchowdhury, 2006). Thứ hai, các công ty có thể thay đổi mức dồn tích để có được mức lợi nhuận mong muốn. Phương pháp này được gọi là quản trị lợi nhuận dồn tích (Healy và Wahlen, 1999).
Cả hai phương pháp quản trị lợi nhuận đều ảnh hưởng đến lợi nhuận theo những cách khác nhau. Quản trị lợi nhuận thực (Real earning management: RE) được áp dụng tương đối nhiều so với quản trị lợi nhuận dồn tích (Discretionary accruals: DA) nếu chi phí của việc sử dụng DA cao hơn so với chi phí sử dụng RE và ngược lại. Các chi phí của việc điều chỉnh các khoản lợi nhuận phụ thuộc vào những hạn chế trong việc áp dụng RE và DA (Zang, 2012). Quản trị lợi nhuận thực (Real earning management: RE) Bange và De Bondt (1998), Rowchowdhury (2006), Pincus và Rajgopal (2002) đã xác định được một số phương pháp để điều chỉnh lợi nhuận thông qua việc làm sai lệch các hoạt động kinh doanh thực.
Phương pháp này có thể được chia thành làm lệch hoạt động kinh doanh và hoạt động đầu tư tài chính (Xu và ctg, 2007). Theo Roychowdhury (2006) Quản trị lợi nhuận thực bao gồm: quản trị lợi nhuận thông qua dòng tiền hoạt động kinh doanh, quản trị lợi nhuận thông qua chi phí sản xuất, quản trị lợi nhuận thông qua chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp. Các công ty có thể làm sai lệch hoạt động kinh doanh bằng cách thay đổi tùy ý mức chi tiêu, chẳng hạn như chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) và chi phí bán hàng. Bằng cách giảm các chi phí sẽ ảnh hưởng ngay lập tức đến báo cáo thu nhập.
Hơn nữa, hoạt động đầu tư và kinh doanh có thể bị sai lệch nếu các công ty sản xuất số lượng lớn để giảm chi phí cố định, làm mức giá bán giảm để tăng doanh số bán hàng từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận (Rowchowdhury, 2006). 10 Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu Trong 1 cuộc khảo sát của Graham và ctg (2005) đã đưa ra kết quả như sau: tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ cho rằng nhà quản trị có những hành động thực tế để duy trì số liệu kế toán. Trong đó, 80% người tham gia khảo sát cho rằng họ sẽ giảm chi tiêu R&D, quảng cáo, bảo trì để đáp ứng mục tiêu lợi nhuận, 55,3% cho rằng họ sẽ trì hoãn việc bắt đầu 1 dự án mới để đáp ứng mục tiêu lợi nhuận. Quản trị lợi nhuận dồn tích (Discretionary accruals: DA) Quản trị lợi nhuận dồn tích (DA) là việc nhà quản trị lựa chọn phương pháp kế toán, hoặc ước lượng kế toán để cố gắng làm mờ hoặc làm đẹp cho báo cáo tài chính (Dechow và Skinner, 2000; Zang, 2012).
Quản trị lợi nhuận dồn tích gồm 2 phần: dồn tích điều chỉnh được (DA) và dồn tích không điều chỉnh được (NDA). Dồn tích không điều chỉnh được là những phần nằm ngoài sự kiểm soát của nhà quản trị, chẳng hạn như sự tăng trưởng kinh tế. Dồn tích điều chỉnh cho phép nhà quản trị lựa chọn chính sách kế toán nên nhà quản trị có thể quản trị lợi nhuận theo mục đích của mình (Jones, 1991).