Nghiên cứu ảnh hưởng của hội đồng quản trị đến vấn đề quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam đề tài nghiên cứu khoa học cấp sơ sở

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu ảnh hưởng của hội đồng quản trị đến vấn đề quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Cấp Cơ Sở

2019

79
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tính cấp thiết của đề tài

Tổng quan nghiên cứu

1.1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Mục tiêu nghiên cứu

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Kết cấu của đề tài nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN

1.1. Cơ sở lý luận về quản trị lợi nhuận trong các doanh nghiệp

1.1.1. Quản trị lợi nhuận

1.1.2. Các mô hình quản trị lợi nhuận

1.1.3. Các chính sách quản trị lợi nhuận

1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp

1.2.1. Ảnh hưởng đặc điểm hội đồng quản đến vấn đề quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp cổ phần

1.2.2. Các vấn đề về đặc điểm hội đồng quản trị trong doanh nghiệp cổ phần

1.3. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2009-2019

2.1. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu

2.1.1. Giả thuyết về các yếu tố thuộc đặc điểm doanh nghiệp

2.1.2. Giả thuyết về các nhân tố thuộc đặc điểm hội đồng quản trị

2.2. Mô hình nghiên cứu

2.3. Cơ sở dữ liệu nghiên cứu

2.4. Thống kê mô tả và mối tương quan giữa các biến nghiên cứu

2.4.1. Thống kê mô tả các biến

2.4.2. Mối tương quan giữa các biến nghiên cứu

2.5. Kết quả thực nghiệm

2.6. Thảo luận kết quả nghiên cứu

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT

3.1. Định hướng về công bố thông tin của Ủy ban chứng khoán Nhà nước

3.2. Một số khuyến nghị, đề xuất

3.2.1. Khuyến nghị đề xuất đối với các doanh nghiệp

3.2.2. Khuyến nghị đề xuất đối với nhà đầu tư

3.2.3. Khuyến nghị đề xuất đối với các cơ quan quản lý Nhà nước

3.2.4. Khuyến nghị đề xuất với các công ty kiểm toán

3.3. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan về Quản Trị Lợi Nhuận và Hội Đồng Quản Trị 55 ký tự

Trong mô hình công ty cổ phần, việc tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành tạo ra nhu cầu kiểm soát hoạt động của nhà quản lý. Hội đồng quản trị (HĐQT) đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát Giám đốc và các quản lý khác. Hiệu quả hoạt động của HĐQT phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức, quy mô công ty, cơ cấu vốn và đặc điểm ngành nghề. Nhiều nghiên cứu cho thấy đặc điểm tổ chức của HĐQT có thể ảnh hưởng đến mức độ quản trị lợi nhuận (QTLN). Quản trị lợi nhuận là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá chất lượng báo cáo tài chính.

1.1. Định nghĩa và bản chất của quản trị lợi nhuận

Quản trị lợi nhuận là sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được mục đích cá nhân (Schipper, 1989). Nó xảy ra khi nhà quản lý điều chỉnh báo cáo tài chính để đánh lừa các bên liên quan (Healy và Wahlen, 1999). Quản trị lợi nhuận phản ánh việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho nhà quản trị hoặc tăng giá trị thị trường của công ty (Scott 1997). Mục tiêu cuối cùng là đạt được lợi nhuận mục tiêu đã đề ra. Các nhà quản lý có nhiều động cơ khác nhau để thực hiện quản trị lợi nhuận, ví dụ như tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu chi phí, hoặc đạt được các mục tiêu tài chính.

1.2. Tầm quan trọng của quản trị lợi nhuận trong BCTC

Quản trị lợi nhuận là một trong những nội dung quan trọng khi đánh giá chất lượng báo cáo tài chính (BCTC). Điều này đòi hỏi nhà đầu tư phải có những hiểu biết và kiến thức nhất định khi đánh giá về chất lượng BCTC. Trước yêu cầu về việc minh bạch hóa thông tin đối với các công ty niêm yết, các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng thông tin cung cấp trong các báo cáo tài chính, nhằm hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư. Tính minh bạch trong thông tin tài chính giúp tăng cường niềm tin của nhà đầu tư.

II. Nghiên Cứu Ảnh Hưởng của HĐQT đến QTLN Tổng Quan 58 ký tự

Hiện nay, các nghiên cứu về quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp đã được thực hiện rộng rãi, tuy nhiên, vẫn còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đề tài này tập trung vào việc xác định các nhân tố tác động và mức độ tác động của các nhân tố thuộc HĐQT đến hành vi quản trị lợi nhuận của người quản lý tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

2.1. Các nghiên cứu quốc tế về ảnh hưởng của HĐQT

Nhiều công trình nghiên cứu của nước ngoài đã đề cập đến vấn đề quản trị lợi nhuận và các yếu tố ảnh hưởng. Healy (1985) kiểm chứng hành vi quản trị lợi nhuận thông qua lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh và không điều chỉnh. DeAngelo (1986) giả định rằng lợi nhuận dồn tích không thể điều chỉnh là ngẫu nhiên và bằng với lợi nhuận dồn tích của kỳ trước. Jones (1991) nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Mỹ. Kothari và cộng sự (2005) cho rằng doanh nghiệp thường có hành vi quản trị lợi nhuận trước các sự kiện quan trọng.

2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước về quản trị lợi nhuận

Việt Nam, một số công trình nghiên cứu về quản trị lợi nhuận đã được thực hiện, thường trong phạm vi ngành hoặc nhóm doanh nghiệp cụ thể. Phạm Thị Bích Vân (2014) nghiên cứu về các hình thức quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài (2015) đã nghiên cứu các nhân tố thuộc đặc điểm công ty, bao gồm các yếu tố liên quan đến thị trường, hiệu suất hoạt động, quản trị doanh nghiệp và cấu trúc công ty. Đặng Ngọc Hùng (2015) cho thấy năm 2013 các công ty điều chỉnh giảm lợi nhuận.

III. Mô Hình Nghiên Cứu Ảnh Hưởng HĐQT đến QTLN tại VN 59 ký tự

Nghiên cứu này sử dụng mô hình định lượng để xem xét các nhân tố thuộc đặc điểm hội đồng quản trị đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2009-2019. Các yếu tố được xem xét bao gồm: độ lớn của HĐQT, các thành viên HĐQT độc lập không điều hành, số lần họp HĐQT, thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính, thành viên nữ trong HĐQT, HĐQT có thành viên kiêm nhiệm CEO, và các nhân tố khác. Mục tiêu là xác định mối quan hệ giữa các đặc điểm này và mức độ quản trị lợi nhuận.

3.1. Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu

Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu tập trung vào cơ cấu hội đồng quản trị. Bao gồm quy mô của HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập, số lượng cuộc họp hàng năm, và sự hiện diện của các thành viên có kinh nghiệm tài chính. Ngoài ra, nghiên cứu còn xem xét vai trò của chủ tịch HĐQT, mối quan hệ của họ với ban điều hành (CEO), và ảnh hưởng của các thành viên nữ trong HĐQT đối với quản trị lợi nhuận. Đây là những yếu tố then chốt ảnh hưởng tới quyết định của nhà quản lý.

3.2. Biến phụ thuộc và phương pháp đo lường QTLN

Biến phụ thuộc chính trong nghiên cứu là mức độ quản trị lợi nhuận, được đo lường bằng các phương pháp kế toán và thống kê phổ biến. Sử dụng các chỉ số như lợi nhuận dồn tích bất thường (discretionary accruals), được ước tính thông qua mô hình Jones (1991) hoặc các biến thể của nó. Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng các chỉ số tài chính khác như tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) để đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp sau khi điều chỉnh cho quản trị lợi nhuận.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Ảnh Hưởng HĐQT đến QTLN tại VN 58 ký tự

Dựa trên dữ liệu thu thập từ các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2009-2019, phân tích hồi quy được thực hiện để xác định mức độ ảnh hưởng của hội đồng quản trị đến quản trị lợi nhuận. Kết quả cho thấy một số đặc điểm của HĐQT, chẳng hạn như tỷ lệ thành viên độc lập và sự hiện diện của các thành viên có chuyên môn tài chính, có mối tương quan đáng kể với mức độ quản trị lợi nhuận. Tuy nhiên, các yếu tố khác, như quy mô của HĐQT và số lần họp, có thể không có tác động rõ ràng.

4.1. Thảo luận về ý nghĩa thống kê của kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cần được thảo luận kỹ lưỡng để đánh giá ý nghĩa thống kê và kinh tế của các mối quan hệ được tìm thấy. Ví dụ, nếu tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT có tương quan âm với mức độ quản trị lợi nhuận, điều này có thể cho thấy rằng HĐQT độc lập hơn có khả năng giám sát và hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận. Tuy nhiên, cần xem xét liệu mối quan hệ này có đủ mạnh để tạo ra sự khác biệt thực sự trong thực tiễn quản lý doanh nghiệp hay không.

4.2. So sánh kết quả với các nghiên cứu trước đây

Kết quả nghiên cứu cần được so sánh với các nghiên cứu trước đây, cả ở Việt Nam và trên thế giới, để xác định điểm tương đồng và khác biệt. Nếu kết quả phù hợp với các nghiên cứu trước đây, điều này có thể củng cố tính hợp lệ của kết quả. Ngược lại, nếu có sự khác biệt, cần xem xét các yếu tố có thể giải thích sự khác biệt này, chẳng hạn như đặc điểm cụ thể của thị trường Việt Nam hoặc sự khác biệt trong phương pháp nghiên cứu. Đối chiếu kết quả giúp làm rõ bức tranh toàn cảnh.

V. Đề Xuất Giải Pháp Tối Ưu HĐQT giảm QTLN tại VN 60 ký tự

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị và đề xuất có thể được đưa ra để cải thiện quản trị công ty và giảm thiểu quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yếtViệt Nam. Các khuyến nghị này có thể bao gồm việc tăng cường sự độc lập của HĐQT, đảm bảo rằng có đủ thành viên có chuyên môn tài chính, và cải thiện tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của HĐQT. Ngoài ra, cần có sự phối hợp từ cơ quan quản lý nhà nước để đưa ra các quy định phù hợp.

5.1. Khuyến nghị cho các doanh nghiệp niêm yết

Các doanh nghiệp niêm yết nên xem xét cải thiện cơ cấu hội đồng quản trị bằng cách tăng cường sự độc lập và đa dạng về kỹ năng của các thành viên. Nên có quy trình rõ ràng để lựa chọn và bổ nhiệm các thành viên HĐQT, và đảm bảo rằng có đủ nguồn lực để HĐQT thực hiện vai trò giám sát hiệu quả. Đồng thời, doanh nghiệp cần tăng cường minh bạch thông tin, giảm thiểu hành vi quản trị lợi nhuận. Sự minh bạch sẽ thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư.

5.2. Đề xuất cho cơ quan quản lý nhà nước

Cơ quan quản lý nhà nước, chẳng hạn như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty và tăng cường giám sát hoạt động của HĐQT. Nên có các quy định rõ ràng về tiêu chuẩn độc lập của thành viên HĐQT, và yêu cầu các doanh nghiệp niêm yết công bố thông tin chi tiết về cơ cấu hội đồng quản trị và hoạt động giám sát. Việc tăng cường giám sát và thực thi sẽ giúp cải thiện chất lượng báo cáo tài chính.

VI. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai về HĐQT và QTLN tại VN 60 ký tự

Nghiên cứu này có một số hạn chế, chẳng hạn như giới hạn về phạm vi dữ liệu và phương pháp đo lường quản trị lợi nhuận. Các nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc mở rộng phạm vi dữ liệu, sử dụng các phương pháp đo lường quản trị lợi nhuận phức tạp hơn, hoặc xem xét các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa HĐQTquản trị lợi nhuận. Nghiên cứu cũng có thể tập trung vào việc đánh giá tác động của các quy định mới về quản trị công ty đối với quản trị lợi nhuận.

6.1. Mở rộng phạm vi nghiên cứu và dữ liệu

Các nghiên cứu tương lai có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu bằng cách xem xét các doanh nghiệp không niêm yết, hoặc các doanh nghiệp trong các ngành khác nhau. Ngoài ra, cần thu thập dữ liệu chi tiết hơn về hoạt động của HĐQT, chẳng hạn như nội dung các cuộc họp, quy trình ra quyết định, và các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa HĐQT và ban điều hành. Dữ liệu lớn hơn và chi tiết hơn sẽ giúp cải thiện độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

6.2. Nghiên cứu tác động của quy định mới về quản trị

Khi các quy định mới về quản trị công ty được ban hành, cần có các nghiên cứu để đánh giá tác động của các quy định này đối với quản trị lợi nhuận. Nghiên cứu có thể tập trung vào việc xác định liệu các quy định mới có thực sự giúp cải thiện sự độc lập và hiệu quả của HĐQT, và liệu điều này có dẫn đến giảm quản trị lợi nhuận hay không. Đánh giá tác động của quy định giúp điều chỉnh chính sách phù hợp.

23/05/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của hội đồng quản trị đến vấn đề quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam đề tài nghiên cứu khoa học cấp sơ sở

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN 1. Cơ sở lý luận về quản trị lợi nhuận trong các doanh nghiệp 1. Quản trị lợi nhuận 1. Khái niệm Lợi nhuận là chỉ tiêu thể hiện lượng giá trị gia tăng được tạo ra sau một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Khi lập báo cáo, nhà quản trị có quyền lựa chọn và vận dụng chính sách kế toán, hoặc tạo ra các giao dịch thực nhằm điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính để đạt được tiêu nhất định. Thuật ngữ “quản trị lợi nhuận” mang hàm ý rất rộng, bao gồm rất nhiều cách thức, biện pháp khác nhau mà nhà quản trị sử dụng để đạt được mục đích mong muốn khi truyền tải thông tin tài chính của doanh nghiệp. Quản trị lợi nhuận là một trong những chủ đề được quan tâm nhiều nhất của giới nghiên cứu kế toán và giới làm nghề kế toán đặc biệt là kế toán của các công ty niêm yết. Không có sự thống nhất trong việc định nghĩa thuật ngữ quản trị lợi nhuận.

Quản trị lợi nhuận theo Healy và Wahlen (1999) xảy ra khi nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính, khiến các cổ đông hiểu sai về hiệu quả hoạt động của công ty, ảnh hưởng tới các giao dịch hợp đồng. Theo Davidson và cộng sự (1987), quản trị lợi nhuận là một quá trình có chủ đích của nhà quản lý, thực hiện trong khuôn khổ của các nguyên tắc kế toán nhằm tạo lập các báo cáo tài chính với mức lợi nhuận mong muốn. Schipper (1989) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp vào quy trình công bố thông tin ra bên ngoài nhằm đạt được mục tiêu cụ thể nào đó của nhà quản trị. Tương đồng với những nghiên cứu trước, Healy và Wahlen (1999) định nghĩa, quản trị lợi nhuận xảy ra khi nhà quản trị sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong trình bày báo cáo tài chính, nhằm làm cho các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính hiểu sai về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc nhằm thay đổi các kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán.

Holthausen và Leftwich (1983) thì lại bày tỏ quan điểm rằng, thông qua hành vi quản trị lợi nhuận, nhà quản trị thể hiện rõ những kỳ vọng cá nhân của họ về dòng tiền 10 tương lai của công ty đến nhà đầu tư. Watts và Zimmerman (1990) mô tả “quản trị lợi nhuận” xảy ra khi các nhà quản lý điều chỉnh các số liệu kế toán trong hoặc vượt quá giới hạn cho phép theo ý định chủ quan của họ. Tuy nhiên, có thể nhận định rằng hành vi thao túng báo cáo tài chính không phải lúc nào cũng là xấu và rất khó để chúng ta có thể phân biệt giữa việc bóp méo lợi nhuận để thực hiện hành vi gian lận với việc các nhà quản trị luôn cố gắng điều tiết thông tin trên báo cáo tài chính để đạt được mục tiêu về lợi nhuận (Ronen và Yaari, 2007). Theo Jiraporna và cộng sự (2008) định nghĩ rõ hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao giá trị thông tin cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính.

Trên quan điểm của nhóm tác giả, “quản trị lợi nhuận” có thể được hiểu là hành vi thao túng lợi nhuận có thể được thực hiện trong hoặc ngoài phạm vi cho phép của các quy định, chuẩn mực, chế độ kế toán nhằm đạt được các mục tiêu quản lý. Phân loại hành vi quản trị lợi nhuận Căn cứ vào cách thức quản trị lợi nhuận, hành vi quản trị lợi nhuận có thể chia thành hai loại: quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận thông qua việc tác động vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh (Schipper, 1989). Quản trị lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích: Là hành vi quản trị lợi nhuận mà nhà quản trị sẽ vận dụng các khoản dồn tích để tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhà quản trị doanh nghiệp vận dụng linh hoạt chính sách kế toán hàng tồn kho, chính sách ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, chính sách ghi nhận chi phí được vốn hóa,….

để điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp Quản trị lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: Là hành vi quản trị lợi nhuận mà nhà quản trị sẽ tác động vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thông qua đó điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp. Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh có thể ở hoạt động kinh doanh chính, hoạt động tài chính hay hoạt động đầu tư. Nhà quản trị có thể cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo, chi phí đào tạo để duy trì lợi nhuận ở mức hiện tại; hoặc họ có thể tác động vào chính sách bán hàng của công ty để tăng lợi nhuận bằng cách tăng thời gian bán chịu cho khách hàng, giảm giá bán niêm yết nếu mua hàng với số lượng lớn. Nhà quản trị có thể thông qua việc mua lại cổ phiếu quỹ để giảm lượng cổ phiếu lưu hành từ đó làm tăng chỉ tiêu lợi nhuận trên cổ phần (EPS); hoặc có thể quyết định thanh lý tài sản dài hạn vào những thời 11 điểm thích hợp trong năm để lợi nhuận được trình bày trên báo cáo tài chính được ổn định.

Các lý thuyết vận dụng để nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp 1. Lý thuyết đại diện Jensen và Meckling (1976) trong tác phẩm “Lý thuyết về công ty: Hành vi nhà quản trị, chi phí người đại diện và cấu trúc sở hữu” đã giới thiệu các quan điểm của mình về lý thuyết người đại diện. Đây là một trong những tác phẩm được trích dẫn nhiều nhất trong gần 3 thập kỷ qua của giới học giả kinh tế, tài chính khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chi phí người đại diện (agency cost). Lý thuyết này đã được nghiên cứu từ trước và có cơ sở từ tâm lý học đó là: con người vốn có khuynh hướng cá nhân (individualistic), cơ hội (opportunistic), và tư lợi (self-interest); tuy nhiên vấn đề ở đây là làm sao để các cá nhân dung hòa lợi ích để cùng có lợi và phát triển.

Nghiên cứu này của Jensen và Meckling thường được trích dẫn ở các nội dung chính sau đây: “Một là, chủ thể (principal) hay chủ sở hữu vốn (shareholders) và người đại diện (agent) hay nhà quản trị (managers) luôn có sự đối nghịch về lợi ích. Người sở hữu vốn quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu (cũng là lợi ích của chính họ). Trong khi đó, nhà quản trị về cơ bản không quan tâm nhiều đến lợi ích cổ đông mà thường chỉ quan tâm đến lợi ích của mình là chính (lương, thưởng, phụ cấp, nguồn thu khác dựa trên vị trí công tác của mình). Hai là, việc không đồng nhất lợi ích giữa chủ sở hữu vốn và người đại diện hay nhà quản trị làm phát sinh một loạt chi phí.

Ba là, chi phí Giám đốc càng lớn khi Giám đốc sở hữu ít hoặc không sở hữu cổ phiếu công ty.” Trên cơ sở đó, các nhà kinh tế tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ người đại diện, cũng như về các loại chi phí Giám đốc. Những nghiên cứu tiếp theo cho thấy một số kết quả như sau: 12 – Giám đốc sẵn sàng lựa chọn các dự án sinh lợi thấp cho công ty nếu lợi ích của mình được đảm bảo và khó có thể chứng minh được thiệt thòi về phía công ty. – Cổ đông có khuynh hướng chấp nhận rủi ro (risk-preference) cao hơn nhiều so với Giám đốc vì cổ đông có thể đa dạng hóa đầu tư vào nhiều công ty, còn Giám đốc làm thuê thì thu nhập chủ yếu từ công ty. Vì vậy, Giám đốc có khuynh hướng né tránh rủi ro (risk-averse) trong việc lựa chọn chiến lược kinh doanh cho công ty, vì khi chấp nhận rủi ro, nếu sinh lợi cao thì không được hưởng như cổ đông.

Ngược lại, nếu không thành công thì nguy cơ mất việc cao. Từ đó, Giám đốc sẵn sàng bỏ qua các cơ hội làm lợi cho cổ đông. – Giám đốc sẵn sàng gây dựng tên tuổi cá nhân mình bằng cách đầu tư vào các dự án đồ sộ, sinh lợi thấp nhưng sử dụng nhiều kinh phí. Giám đốc ưa thích xây nhà cửa, mua phương tiện đi lại nhiều tiền để chứng minh vị thế của mình và hưởng lợi trên chi phí mà cổ đông phải chịu.

– Giám đốc có khuynh hướng đầu tư ngắn hạn, quan tâm tới công việc, vị trí của mình hơn là mạo hiểm để mang lại lợi ích dài hạn cho công ty. Giám đốc có khuynh hướng đầu tư mạnh cho quảng cáo để gián tiếp quảng bá mình và nhận hoa hồng, nhưng có khuynh hướng ngược lại đối với chi phí nghiên cứu phát triển (R&D) vì chi lớn có thể làm giảm lương, thưởng, còn cái lợi về dài hạn của R&D thì Giám đốc có thể không được thụ hưởng. – Giám đốc có khuynh hướng không thích vay nợ vì sẽ bị kiểm soát bởi các bên cho vay trong việc sử dụng vốn của mình. – Chi phí Giám đốc liên quan trực tiếp đến mức độ phân tán hay tập trung của vốn chủ sở hữu.

Vốn chủ sở hữu phân tán khiến các cổ đông có thể thiếu quyền hạn trong việc giám sát Giám đốc, dẫn đến tình trạng cổ đông này cho rằng cổ đông kia đã giám sát (free-rider). Các nghiên cứu cho thấy Giám đốc thường ít có khuynh hướng trả cổ tức (devidend payout) vì muốn lưu giữ ngân quỹ cao để làm vùng đệm cho những chi tiêu, đồng thời làm giảm khả năng công ty phải đi vay khi đó Giám đốc sẽ bị đánh giá về hiệu quả, năng lực qua hoạt động sử dụng vốn. Theo lý thuyết người đại diện, chi phí Giám đốc chỉ bằng không khi chủ sở hữu vốn cũng chính là Giám đốc công ty. Những loại hình công ty cổ phần là rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường và các Giám đốc thường được thuê từ bên ngoài, nên các 13 chi phí này là không thể tránh khỏi khi Giám đốc và cổ đông luôn không đồng nhất về lợi ích như đã đề cập.

Cùng với nghiên cứu của Jensen & Meckling (1976), một nghiên cứu khác về chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu sau đó đã được thực hiện bởi Fama & Jensen (1983). Nghiên cứu này đưa ra kết luận rằng trong một công ty luôn có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hội Đồng Quản Trị Đến Quản Trị Lợi Nhuận Các Công Ty Niêm Yết Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của hội đồng quản trị trong việc quản lý lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Nghiên cứu này chỉ ra rằng cấu trúc và đặc điểm của hội đồng quản trị có thể ảnh hưởng đáng kể đến quyết định tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Độc giả sẽ nhận được những thông tin quý giá về cách thức mà các yếu tố quản trị có thể tác động đến lợi nhuận, từ đó giúp họ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của quản trị doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ quản trị rủi ro tài chính tại các công ty cổ phần xây dựng niêm yết ở việt nam, nơi phân tích các yếu tố rủi ro trong quản trị tài chính. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án tiến sĩ nhân tố tổng hợp đại diện quản trị công ty tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất niêm yết ở việt nam cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Ảnh hưởng của giao dịch các bên liên quan đến quản trị lợi nhuận của công ty niêm yết tại việt nam, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa các bên liên quan và quản trị lợi nhuận. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quản trị doanh nghiệp và lợi nhuận trong bối cảnh Việt Nam.