CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN 1. Cơ sở lý luận về quản trị lợi nhuận trong các doanh nghiệp 1. Quản trị lợi nhuận 1. Khái niệm Lợi nhuận là chỉ tiêu thể hiện lượng giá trị gia tăng được tạo ra sau một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Khi lập báo cáo, nhà quản trị có quyền lựa chọn và vận dụng chính sách kế toán, hoặc tạo ra các giao dịch thực nhằm điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính để đạt được tiêu nhất định. Thuật ngữ “quản trị lợi nhuận” mang hàm ý rất rộng, bao gồm rất nhiều cách thức, biện pháp khác nhau mà nhà quản trị sử dụng để đạt được mục đích mong muốn khi truyền tải thông tin tài chính của doanh nghiệp. Quản trị lợi nhuận là một trong những chủ đề được quan tâm nhiều nhất của giới nghiên cứu kế toán và giới làm nghề kế toán đặc biệt là kế toán của các công ty niêm yết. Không có sự thống nhất trong việc định nghĩa thuật ngữ quản trị lợi nhuận.
Quản trị lợi nhuận theo Healy và Wahlen (1999) xảy ra khi nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính, khiến các cổ đông hiểu sai về hiệu quả hoạt động của công ty, ảnh hưởng tới các giao dịch hợp đồng. Theo Davidson và cộng sự (1987), quản trị lợi nhuận là một quá trình có chủ đích của nhà quản lý, thực hiện trong khuôn khổ của các nguyên tắc kế toán nhằm tạo lập các báo cáo tài chính với mức lợi nhuận mong muốn. Schipper (1989) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp vào quy trình công bố thông tin ra bên ngoài nhằm đạt được mục tiêu cụ thể nào đó của nhà quản trị. Tương đồng với những nghiên cứu trước, Healy và Wahlen (1999) định nghĩa, quản trị lợi nhuận xảy ra khi nhà quản trị sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong trình bày báo cáo tài chính, nhằm làm cho các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính hiểu sai về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc nhằm thay đổi các kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán.
Holthausen và Leftwich (1983) thì lại bày tỏ quan điểm rằng, thông qua hành vi quản trị lợi nhuận, nhà quản trị thể hiện rõ những kỳ vọng cá nhân của họ về dòng tiền 10 tương lai của công ty đến nhà đầu tư. Watts và Zimmerman (1990) mô tả “quản trị lợi nhuận” xảy ra khi các nhà quản lý điều chỉnh các số liệu kế toán trong hoặc vượt quá giới hạn cho phép theo ý định chủ quan của họ. Tuy nhiên, có thể nhận định rằng hành vi thao túng báo cáo tài chính không phải lúc nào cũng là xấu và rất khó để chúng ta có thể phân biệt giữa việc bóp méo lợi nhuận để thực hiện hành vi gian lận với việc các nhà quản trị luôn cố gắng điều tiết thông tin trên báo cáo tài chính để đạt được mục tiêu về lợi nhuận (Ronen và Yaari, 2007). Theo Jiraporna và cộng sự (2008) định nghĩ rõ hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao giá trị thông tin cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính.
Trên quan điểm của nhóm tác giả, “quản trị lợi nhuận” có thể được hiểu là hành vi thao túng lợi nhuận có thể được thực hiện trong hoặc ngoài phạm vi cho phép của các quy định, chuẩn mực, chế độ kế toán nhằm đạt được các mục tiêu quản lý. Phân loại hành vi quản trị lợi nhuận Căn cứ vào cách thức quản trị lợi nhuận, hành vi quản trị lợi nhuận có thể chia thành hai loại: quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận thông qua việc tác động vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh (Schipper, 1989). Quản trị lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích: Là hành vi quản trị lợi nhuận mà nhà quản trị sẽ vận dụng các khoản dồn tích để tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhà quản trị doanh nghiệp vận dụng linh hoạt chính sách kế toán hàng tồn kho, chính sách ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, chính sách ghi nhận chi phí được vốn hóa,….
để điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp Quản trị lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: Là hành vi quản trị lợi nhuận mà nhà quản trị sẽ tác động vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thông qua đó điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp. Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh có thể ở hoạt động kinh doanh chính, hoạt động tài chính hay hoạt động đầu tư. Nhà quản trị có thể cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo, chi phí đào tạo để duy trì lợi nhuận ở mức hiện tại; hoặc họ có thể tác động vào chính sách bán hàng của công ty để tăng lợi nhuận bằng cách tăng thời gian bán chịu cho khách hàng, giảm giá bán niêm yết nếu mua hàng với số lượng lớn. Nhà quản trị có thể thông qua việc mua lại cổ phiếu quỹ để giảm lượng cổ phiếu lưu hành từ đó làm tăng chỉ tiêu lợi nhuận trên cổ phần (EPS); hoặc có thể quyết định thanh lý tài sản dài hạn vào những thời 11 điểm thích hợp trong năm để lợi nhuận được trình bày trên báo cáo tài chính được ổn định.
Các lý thuyết vận dụng để nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp 1. Lý thuyết đại diện Jensen và Meckling (1976) trong tác phẩm “Lý thuyết về công ty: Hành vi nhà quản trị, chi phí người đại diện và cấu trúc sở hữu” đã giới thiệu các quan điểm của mình về lý thuyết người đại diện. Đây là một trong những tác phẩm được trích dẫn nhiều nhất trong gần 3 thập kỷ qua của giới học giả kinh tế, tài chính khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chi phí người đại diện (agency cost). Lý thuyết này đã được nghiên cứu từ trước và có cơ sở từ tâm lý học đó là: con người vốn có khuynh hướng cá nhân (individualistic), cơ hội (opportunistic), và tư lợi (self-interest); tuy nhiên vấn đề ở đây là làm sao để các cá nhân dung hòa lợi ích để cùng có lợi và phát triển.
Nghiên cứu này của Jensen và Meckling thường được trích dẫn ở các nội dung chính sau đây: “Một là, chủ thể (principal) hay chủ sở hữu vốn (shareholders) và người đại diện (agent) hay nhà quản trị (managers) luôn có sự đối nghịch về lợi ích. Người sở hữu vốn quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu (cũng là lợi ích của chính họ). Trong khi đó, nhà quản trị về cơ bản không quan tâm nhiều đến lợi ích cổ đông mà thường chỉ quan tâm đến lợi ích của mình là chính (lương, thưởng, phụ cấp, nguồn thu khác dựa trên vị trí công tác của mình). Hai là, việc không đồng nhất lợi ích giữa chủ sở hữu vốn và người đại diện hay nhà quản trị làm phát sinh một loạt chi phí.
Ba là, chi phí Giám đốc càng lớn khi Giám đốc sở hữu ít hoặc không sở hữu cổ phiếu công ty.” Trên cơ sở đó, các nhà kinh tế tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ người đại diện, cũng như về các loại chi phí Giám đốc. Những nghiên cứu tiếp theo cho thấy một số kết quả như sau: 12 – Giám đốc sẵn sàng lựa chọn các dự án sinh lợi thấp cho công ty nếu lợi ích của mình được đảm bảo và khó có thể chứng minh được thiệt thòi về phía công ty. – Cổ đông có khuynh hướng chấp nhận rủi ro (risk-preference) cao hơn nhiều so với Giám đốc vì cổ đông có thể đa dạng hóa đầu tư vào nhiều công ty, còn Giám đốc làm thuê thì thu nhập chủ yếu từ công ty. Vì vậy, Giám đốc có khuynh hướng né tránh rủi ro (risk-averse) trong việc lựa chọn chiến lược kinh doanh cho công ty, vì khi chấp nhận rủi ro, nếu sinh lợi cao thì không được hưởng như cổ đông.
Ngược lại, nếu không thành công thì nguy cơ mất việc cao. Từ đó, Giám đốc sẵn sàng bỏ qua các cơ hội làm lợi cho cổ đông. – Giám đốc sẵn sàng gây dựng tên tuổi cá nhân mình bằng cách đầu tư vào các dự án đồ sộ, sinh lợi thấp nhưng sử dụng nhiều kinh phí. Giám đốc ưa thích xây nhà cửa, mua phương tiện đi lại nhiều tiền để chứng minh vị thế của mình và hưởng lợi trên chi phí mà cổ đông phải chịu.
– Giám đốc có khuynh hướng đầu tư ngắn hạn, quan tâm tới công việc, vị trí của mình hơn là mạo hiểm để mang lại lợi ích dài hạn cho công ty. Giám đốc có khuynh hướng đầu tư mạnh cho quảng cáo để gián tiếp quảng bá mình và nhận hoa hồng, nhưng có khuynh hướng ngược lại đối với chi phí nghiên cứu phát triển (R&D) vì chi lớn có thể làm giảm lương, thưởng, còn cái lợi về dài hạn của R&D thì Giám đốc có thể không được thụ hưởng. – Giám đốc có khuynh hướng không thích vay nợ vì sẽ bị kiểm soát bởi các bên cho vay trong việc sử dụng vốn của mình. – Chi phí Giám đốc liên quan trực tiếp đến mức độ phân tán hay tập trung của vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu phân tán khiến các cổ đông có thể thiếu quyền hạn trong việc giám sát Giám đốc, dẫn đến tình trạng cổ đông này cho rằng cổ đông kia đã giám sát (free-rider). Các nghiên cứu cho thấy Giám đốc thường ít có khuynh hướng trả cổ tức (devidend payout) vì muốn lưu giữ ngân quỹ cao để làm vùng đệm cho những chi tiêu, đồng thời làm giảm khả năng công ty phải đi vay khi đó Giám đốc sẽ bị đánh giá về hiệu quả, năng lực qua hoạt động sử dụng vốn. Theo lý thuyết người đại diện, chi phí Giám đốc chỉ bằng không khi chủ sở hữu vốn cũng chính là Giám đốc công ty. Những loại hình công ty cổ phần là rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường và các Giám đốc thường được thuê từ bên ngoài, nên các 13 chi phí này là không thể tránh khỏi khi Giám đốc và cổ đông luôn không đồng nhất về lợi ích như đã đề cập.
Cùng với nghiên cứu của Jensen & Meckling (1976), một nghiên cứu khác về chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu sau đó đã được thực hiện bởi Fama & Jensen (1983). Nghiên cứu này đưa ra kết luận rằng trong một công ty luôn có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát.