Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu của bài nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và bố cục bài luận văn. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây 5 Chương này trình bày tổng quan các lý thuyết nghiên cứu về tính thanh khoản, cổ tức, chính sách cổ tức và các bằng chứng thực nghiệp liên quan đến tác động của tính thanh khoản cổ phiếu đối với quyết định chi trả cổ tức của doanh nghiệp. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu Chương này trình bày chi tiết về cơ sở dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu trong bài luận văn, mô hình nghiên cứu cùng các biến được sử dụng trong mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày kết quả hồi quy dựa trên mô hình nghiên cứu và thảo luận về tác động của tính thanh khoản cổ phiếu đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp.
Chương 5: Kết luận Chương này trình bày kết luận của bài nghiên cứu, hạn chế của bài cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 Chương 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tính thanh khoản của cổ phiếu Tính thanh khoản là một yếu tố chủ chốt đối với thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả, vì đây là một yếu tố tác động quan trọng đến các nhà đầu tư, các sàn giao dịch chứng khoán và các công ty niêm yết. Hơn nữa, tính thanh khoản cũng đem đến sự ổn định cho cả thị trường tài chính.
Vậy, tính thanh khoản là gì? Mặc dù khái niệm về “tính thanh khoản” có xuất hiện nhiều trong lý thuyết tài chính và dường như đây là một khái niệm đơn giản, nhưng bất ngờ là có rất ít sự đồng nhất về định nghĩa tính thanh khoản. Keynes (1930) là một trong những người đưa ra định nghĩa đầu tiên về tính thanh khoản. Trong đó, ông cho rằng một tài sản có tính thanh khoản cao hơn nếu tài sản đó có thể được giao dịch chắn chắn hơn trong một thời gian ngắn mà không chịu bất kỳ sự thua lỗ nào. Kế thừa từ định nghĩa của Keynes, Wuyts (2007) đã đưa ra khái niệm về tính thanh khoản như sau: “một thị trường được xem là có tính thanh khoản cao nếu nhà đầu tư có thể nhanh chóng mua hoặc bán số lượng lớn cổ phiếu mà không chịu ảnh hưởng của yếu tố giá cả”.
Theo đó, tính thanh khoản cổ phiếu là mức độ cổ phiếu có thể được mua hoặc bán tại cùng một mức giá. Một cổ phiếu có tính thanh khoản cao tức cổ phiếu đó có thể được mua hoặc bán dễ dàng. Vì lí do đó, nhà đầu tư thường thích đầu tư vào cổ phiếu có tính thanh khoản cao hơn cổ phiếu có tính thanh khoản thấp vì khả năng chuyển đổi một cách dễ dàng cổ phiếu đang nắm giữ sang tiền mặt. Tính thanh khoản cổ phiếu thường phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp niêm yết và mối quan hệ cung cầu trên thị trường chứng khoán.
Nếu một doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh hiệu quả, chính sách cổ tức hấp dẫn, doanh nghiệp này nhiều khả năng thu hút nhà đầu tư hơn, qua đó cổ phiếu của doanh nghiệp cũng có thể dễ dàng mua bán trên thị trường. Ngược lại, doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh 7 kém hiệu quả, tỷ lệ chi trả cổ tức thấp, cổ phiếu của doanh nghiệp này sẽ không còn hấp dẫn, giá giảm và khó khăn trong việc mua bán hơn. Bên cạnh đó, cũng như tất cả mọi thị trường hàng hóa khác, thị trường cổ phiếu cũng chịu sự chi phối của quy luật cung cầu. Giá cổ phiếu của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu nhà đầu tư.
Trường hợp một loại cổ phiếu chất lượng cao nhưng thị trường đang trong tình trạng dư thừa nguồn cung thì cổ phiếu đó cũng khó có thể tăng giá. Ngược lại khi thị trường khan hiếm hàng hóa, lúc này ngay cả những cổ phiếu kém chất lượng cũng có thể dễ dàng bán ra. Ngoài ra, theo nghiên cứu nổi tiếng về tính thanh khoản của Amihud (2002), tính thanh khoản cổ phiếu phụ thuộc vào hai yếu tố chính, đó là giá trị giao dịch của cổ phiếu và chênh lệch giá cổ phiếu. Về yếu tố thứ nhất, giá trị giao dịch của cổ phiếu thể hiện dòng tiền đang hiện diện trên thị trường, tức lượng tiền mặt mà các nhà đầu tư phải bỏ ra khi đầu tư cổ phiếu.
Giá trị giao dịch là một yếu tố giúp xác định tính thanh khoản của cổ phiếu cùng với khối lượng giao dịch cổ phiếu. Khối lượng giao dịch của cổ phiếu là số cổ phiếu được giao dịch trong một phiên (tuần, tháng, năm…). Một cổ phiếu được xem là có tính thanh khoản nếu khối lượng và giá trị giao dịch của cổ phiếu đó tương xứng với nhau. Yếu tố chênh lệch giá cổ phiếu thể hiện rõ sự thay đổi giá cổ phiếu của doanh nghiệp trong từng phiên.
Sự thay đổi giá cổ phiếu cho thấy chất lượng hoạt động của doanh nghiệp cũng như đánh giá và nhu cầu của nhà đầu tư đối với cổ phiếu này, điều này phù hợp với những yếu tố tác động đến tính thanh khoản tác giả đã đề cập ở trên. Chính sách cổ tức Cùng với quyết định đầu tư và quyết định tài trợ, quyết định chi trả cổ tức là một trong ba quyết định tài chính quan trọng của một doanh nghiệp. Chính sách cổ tức xác định mức lợi nhuận mà doanh nghiệp đưa ra phân phối. Lợi nhuận sẽ được doanh nghiệp giữ lại để tái đầu tư cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hay được chi trả cho các cổ đông.
Lợi nhuận giữ lại thường được xem là nguồn vốn cổ phần quan trọng hơn phát hành cổ phần mới. 8 Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chi trả cổ tức của một doanh nghiệp. Trong đó, có yếu tố về các hạn chế về pháp lý, các quốc gia đều có luật quy định về chi trả cổ tức cho các doanh nghiệp nhằm hạn chế sự suy yếu vốn của doanh nghiệp, hạn chế lợi nhuận ròng và hạn chế khả năng mất thanh toán. Ngoài ra, còn có các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức như các điều khoản hạn chế, các ảnh hưởng của thuế, khả năng vay nợ và tiếp cận thị trường vốn, ổn định thu nhập, triển vọng tăng trưởng, lạm phát, các ưu tiên của cổ đông, bảo vệ chống loãng giá và các ảnh hưởng của tính thanh khoản cổ phiếu.
Tùy vào đặc điểm và định hướng của doanh nghiệp, ngành công nghiệp doanh nghiệp đang hoạt động và thị trường, doanh nghiệp sẽ có những quyết định chi trả cổ tức khác nhau phù hợp với từng điều kiện. Chính sách cổ tức là một trong những chính sách quan trọng trong tài chính doanh nghiệp hiện đại. Trong thời gian qua, thế giới cũng như Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu các lý thuyết và vấn đề liên quan đến chính sách cổ tức. Trong đó, những nghiên cứu về những yếu tố tác động đến quyết định chi trả cổ tức của doanh nghiệp không ngừng phát triển.
Nổi bật trong những nghiên cứu về chính sách cổ tức là nghiên cứu của Miller và Modigliani (1961). MM vào năm 1961 đã có những nghiên cứu nổi bật đạt giải Nobel Kinh tế về chính sách cổ tức đối với giá trị doanh nghiệp. Theo đó, MM giả định rằng trong một thế giới không có thuế, không có chi phí giao dịch và không có các bất hoàn hảo của thị trường, tài sản của cổ đông được quyết định hoàn toàn dựa trên các cơ hội đầu tư của doanh nghiệp và độc lập, không liên quan đến chính sách chi trả cổ tức. Tuy nhiên, trên thực thế, thị trường rất khó có thể đáp ứng được những giả định của MM, do đó kết quả nghiên cứu của Miller và Modigliani (1961) đưa đến rất nhiều tranh cãi, rằng thuế và các bất hoàn hảo của thị trường có làm thay đổi giá trị của doanh nghiệp hay không.
Với nghiên cứu tại các quốc gia mới nổi, Aivazian và Booth (2003) tìm thấy rằng chính sách cổ tức của các doanh nghiệp ở thị trường mới nổi cũng tương tự với với các doanh nghiệp tại Mỹ, đồng thời chính sách cổ tức của các doanh nghiệp này cũng chịu sự tác động của các yếu tố: lợi nhuận, vay nợ và tỷ số giá trị thị trường 9 trên giá trị sổ sách. Đồng thời, các tác giả này cũng thấy rằng yếu tố quốc gia cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến chính sách cổ tức tại các thị trường mới nổi. Trong khi, Fama và French (2001) nghiên cứu rằng lợi nhuận, cơ hội tăng trưởng và quy mô doanh nghiệp là những yếu tố tác động đến quyết định chi trả cổ tức. Theo đó, những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, lợi nhuận thấp và cơ hội tăng trưởng cao lại thường có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hoặc thậm chí không chi trả cổ tức.
Wei et al. (2004) tiến hành nghiên cứu một mẫu quan sát gồm các doanh nghiệp niêm yết tại Trung Quốc giai đoạn 1995-2001 và đưa ra kết luận rằng các nhà quản lý của các doanh nghiệp Trung Quốc lựa chọn chính sách cổ tức tùy thuộc vào sự ưa thích của những cổ đông khác nhau. Cụ thể, nếu doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu cổ phần của Nhà nước càng cao, doanh nghiệp này thường có tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt càng cao. Với những doanh nghiệp có sở hữu tư nhân cao hơn, các nhà quản lý doanh nghiệp đó thường chi trả cổ tức bằng cổ phiếu hơn bằng tiền mặt.
Tóm lại, đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến chính sách cổ tức và các yếu tố tác động đến chính sách tài chính quan trọng này. Trong bài luận văn, tác giả nghiên cứu một yếu tố khác cũng có tác động đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp, đó là tính thanh khoản cổ phiếu. Nghiên cứu thực nghiệm về tương quan giữa tính thanh khoản cổ phiếu và chính sách cổ tức của doanh nghiệp Nghiên cứu nổi tiếng của Miller và Modiglinani (1961) về chính sách cổ tức được xem là một cơ sở lý thuyết quan trọng về chính sách cổ tức cũng như những yếu tố tác động đến quyết định chi trả cổ tức, bao gồm thanh khoản cổ phiếu. Với giả định thị trường không có ma sát, nhà đầu tư có thể đầu tư hoặc bán khoản đầu tư của mình trong một doanh nghiệp mà không chịu bất kỳ chi phí giao dịch trực tiếp hay gián tiếp nào.