CHƯƠNG 1. TÓNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN củu 'rông quan các nghiên cứu trước về cách đo lường giao dịch các bên liên quan qua các công trình nghiên cửu trôn thế giới và Việt Nam về các nhân tố ánh hường quán trị lợi nhuận. Từ đó tim ra khoáng trống nghiên cứu “Anh hường của giao dịch các bên liên quan đến quán trị lợi nhuận của công ty niêm yết tại Việt Nam.” RPTs là viết tắt cúa "Related Party Transactions"- Giao dịch giừa các bên liên quan là một thỏa thuận hoặc sự sắp xếp giừa hai ben tham gia bời mối quan hệ kinh doanh từ trước đó hoặc vỉ lợi ích chung, phát sinh lọi ích trực tiếp hoặc gián tiếp. Giao dịch giừa công ty và các bên liên quan có the bao gồm chuyên giao nguồn lực, dịch vụ hoặc nghía vụ.
Các giao dịch này có thê xảy ra với hoặc không có hành vi chuyên giá (transfer pricing). Loại hình giao dịch có thể xảy ra dưới nhiều hình thức như bán hàng, mua hàng, cung ửng dịch vụ, cho vay, thuê mướn tài sán, và các loại giao dịch khác. Vỉ vậy, cách đo lường về giao dịch giữa các bên liên quan cũng cỏ nhiề cách khác nhau. Tình hình nghiên cứu trên thế giói 1.Tổng quan các nghiên cứu trước về các đo lường giao dịch các bên liên quan Trong quá trinh kháo sát các chỉ sổ liên quan đến giao dịch với các bôn có liên quan RPTs, Chu-Yang và Hsu Joseph (2010) đà đưa ra chỉ so RP sales, định nghĩa là tỳ lệ phần trăm giừa doanh sổ thu được từ giao dịch với các bên có liên quan so với lông doanh số thu năm đó.
Chỉ số giao dịch mua hàng với các bên liên quan RP purchase được định lượng bằng tỷ lệ của giao dịch mua hàng từ các bên liên quan trên tông giá vốn hàng bán của năm. Mặt khác, chi so RPAG là lài thanh lý tài sàn cho các bên liên quan, cụ thể hỏa tý suất lợi nhuận thuần lừ tài sán dành cho các bên liên quan, tính toán dựa trên lợi nhuận thuần từ tài sản liên quan chia cho doanh sổ tỏng. Tương tự, lồ thanh lỷ tài sán RPAL đo lường tỷ lệ lỗ ròng từ lài sản dành cho các bỗn liên quan, qua việc phân chia lồ thuần cho doanh số tông của năm. Ngoài ra, RPIR và RP1E phán ánh, lần lượt, doanh thu và chi phí tài chính phát sinh từ giao dịch với các bên liên quan, được đo bằng cách tính tỷ lệ doanh thu hoặc chi phí với bên liên quan so với doanh số tông năm đó.
6 Kuan và các cộng sự (2010) đã nghiên cứu tông giá trị giao dịch RPTs được do lường bằng phương pháp tính tý lệ giừa tổng giá trị giao dịch liên quan đến tài sàn và nợ phải trà, cũng như doanh thu và chi phí phát sinh, trên tông giá trị tài sán của năm liền kề trước đỏ. Nghiên cửu này đã được tiến hành trên một mầu gồm 50 công ly niêm yết tại Sở Giao dịch Chửng khoán Indonesia (TTCK Indonesia) trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến 2005, sừ dụng mô hình Modified Jones (1991) nhằm đo lường tồng dồn tích thay đối (DA). Phân tích thống kê cho thấy không có bằng chứng đáng kể về mối quan hệ giừa RPTs và chất lượng thông tin kế toán QTLN. Do đỏ, kết quả nghiên cửu này gợi ý rằng sự hiện diện của RPTs trong môi trường TTCK Indonesia không dẫn đen việc tăng cường hoạt động thực hiện QTLN ờ các công ty được nghiên cứu.
Trong khi đó, Chen và các cộng sự (2011) cũng đê cập đen phương pháp đo lường này, đà xác định RPTs thông qua việc đo lường tông giá trị các giao dịch phát sinh trong năm liên quan đến tài sán, được chuấn hóa so với tổng giá trị tài sãn cùa năm liền kề trước. Nhấn mạnh rằng nó bao gồm 5 giao dịch chính như quan hệ thương mại, việc bán tài sản không phái tiền tệ, chi phí quản lỷ, nhượng quyền thương mại, và các khoản thu từ việc bán quyền sứ dụng tài sàn hoặc thuê tài sán. Đặc biệt, quá trình phân tích tập trung vào giai đoạn trước khi công ty tiến hành Chào Bán Cô Phần Lần Đầu ra Công Chúng (Initial Public Offering - IPO), khi mà các cổ đông kiêm soát có khá năng lái cấu trúc RPTs. Mục tiêu của việc tái cấu trúc này là đê khám phá liệu việc tái cấu trúc có thê dần đen việc tổi ưu hóa hiệu suất hoạt động của công ty hay không, qua đó cung cấp một cái nhìn sâu sắc hơn về cách thức RPTs được sử dụng như một công cụ quản trị tài chính trong bổi cánh IPO.
Đê xem xét mối quan hệ giữa RO A (Return on Assets) và RPTs (Related Party Transactions). Srinivasan (2013) đà nghiên cứu về 3 loại RPTs chính: - RP_INC (Related Party Income): + Được tính bằng cách chia thu nhập từ cung cấp dịch vụ cho các bên liên quan cho tông thu nhập của công ty trong năm. + Thường được sứ dụng đế đo lường mức độ thu nhập mà công ty nhận được từ các bên liên quan. - RP_EXP (Related Party Expenses): 7 + Được tính bằng tỷ lệ phần trăm của chi phí liên quan đến bên liên quan (bao gồm mua hàng hóa, nhận dịch vụ và chi phí khác) so với tỏng chi phí của công ty trong năm.
+ Thường được sử dụng đê đo lường mức độ chi phí mà công ty trá cho các bên liên quan. - RP_LABG (Related Party Loans and Advances Given): + Được tính bang tý lệ phần trăm của các khoán cho vay và ứng trước mà công ty cung cấp cho các bên liên quan (bao gồm cá báo lãnh) so với tống tài sản của công ty. + Thường được sứ dụng để đo lường mức độ hồ trợ tài chính mà công ty cung cấp cho các bên liên quan. - Tất cá các loại RPTs này có thê được sư dụng đê đánh giá mối quan hệ giừa hiệu suất tài chính (ROA) và các giao dịch với các bên liên quan trong doanh nghiệp.
Việc này có thế giúp hiểu rõ hơn về cách các mối quan hệ này có thể ảnh hường đến hiệu suất và quàn lỷ tài chính của công ty. Trong bổi cánh nghiên cứu này, kha năng QTLN là một yếu tổ quan trọng đối với việc đánh giá hiệu quà cùa các giao dịch liên quan và ảnh hường của nó đến hoạt động kinh doanh của công ty. Việc sử dụng RPTs có thể phản ánh chiến lược quán lý lài nguyên hiệu quà hoặc có thê chi ra các vấn đề về sự minh bạch và quản trị công ty, đặc biệt là trong các công ty gia đình nơi mà các quan hệ gia đỉnh có thể ánh hường đến quyết định kinh doanh. Nghiên cứu của Giovanna Gavana nhẩn mạnh sự khác biệt trong cách thức quán trị giừa công ty gia đình (do gia đình sờ hừu, có ít nhất 20% cổ phần) và công ty không phải gia đình.
Làm sáng tó rằng các công ty gia đình thường có xu hướng sử dụng RPTs nhiều hơn thông qua đo lường bang cách lý tông doanh thu, giao dịch mua và số dư chưa thanh toán giữa công ty và các bên liên quan. Điêu này cỏ thê được giài thích bời lý do là các chu sờ hữu gia đỉnh thường có động cơ mạnh mẽ hơn để tái phân bô nguồn lực trong nội bộ công ty, nhằm mục đích tối ưu hóa lợi ích cùa gia đình. Tuy nhiên, nếu không được kiểm soát chặt che, việc sử dụng RPTs có thể dần đến xung đột lợi ích và làm giảm giá trị cô đông. Nghiên cứu cùa Gavana cung cấp cái nhìn sâu sắc vào cách thức các công ty gia đình ờ Ý quản lý và sử dụng RPTs, qua đó góp phần vào lĩnh vực nghiên cứu quán trị công ty và tài chính doanh nghiệp.
Ket quá của nghiên cứu này có thể cỏ ý nghĩa đối với việc thiết kế chính sách và quy định, nhằm cải thiện 8 tiêu chuân quản trị và tăng cường tính minh bạch trong hoạt động cua các công ty niêm yết. Do đó, việc giám sát và quản lỷ RPTs đòi hoi một hộ thống quản trị công ty chặt chẽ và minh bạch, đê đàm báo rằng các giao dịch này được thực hiện với điều kiện thị trường công bằng và không làm tốn hại đến lợi ích cùa cố đông không phái là thành viên gia đinh. Điều này cũng cần được phân ánh trong các báo cáo lài chính và báo cáo quan trị, cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà đầu lư và các bên liên quan khác đê họ có thế đánh giá chính xác hiệu quá quân trị cua công ty.Tổng quan các nghiên cứu trưóc về các mô hình đo luồng mức độ quản trị lọi nhuận Trong lình vực đo lường hiệu suất tài chính, mô hình dựa trôn co sờ dồn tích (AEM) đã được phát triển để cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các nghiên cứu đà tiến hành đánh giá hiệu quả của mô hình này thông qua điều chinh (DA) bằng cách lấy tổng dồn tích (TA) trừ các yểu tổ không định kỳ (NDA- các khoản dồn tích phát sinh bình thường), nhăm phản ánh chính xác hơn về mặt thông tin nghiên cứu đo lường mức độ QTLN.
Trong số các mô hình được nghiên cứu và sử dụng rộng răi, chúng ta có thê kê đến mô hình The Healy Model (1985), The De Angelo Model (1986), mồ hình The Jones Model (1991), mô hình Jones đà được điều chinh (Modified Jones Model, 1995), và mô hỉnh The Friedlan (1994). Mồi mô hỉnh này đều có cách tiếp cận độc đáo trong việc đo lường và phân tích lợi nhuận, cũng như trong việc xác định các hành vi thao túng lợi nhuận có thế xày ra. Việc áp dụng các mô hình này trong nghiên cứu và phân tích tài chính đòi hòi một sự hiêu biết sâu sắc về các nguyên tăc kế toán cũng như khá năng điêu chỉnh chúng đế phàn ánh đúng đắn tình hình tài chính cua doanh nghiệp. - Mô hình The Healy Model (1985): Một mô hình được sử dụng để đo lường hành vi cúa quán trị trong việc báo cáo tài chính, đặc biệt là liên quan đến việc QTLN.
9 M)A„ = n Và DA^TAh/A^-NDAh Trofig dó: n : so năm trong kỳ ước tính i: công ty i cân nghiên cứu mức độ điêu chinh lọi nhuận I: năm sự kiện (năm nghiên cứu mức độ điêu chinh lợi nhuận) Mô hình Healy (1985) được coi là một trong những phương pháp tiên phong trong việc đo lường hành vi quản trị lợi nhuận. Theo Healy (1985), tông dồn tích là phần chênh lệch giừa lợi nhuận được báo cáo và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh.