Chương 1: Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước, trong chương này tác giả tập hợp và trình bày các bằng chứng thực nghiệm trên Thế giới và Việt Nam trước đây về ảnh hưởng của sử dụng đòn bẩy tài chính đến quản trị lợi nhuận trên cơ sở dồn tích và một số lý thuyết giải thích cho ảnh hưởng này. Chương 2: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày cụ thể phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và cơ sở dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các biến độc lập, biến phụ thuộc sử dụng trong đề tài. 4 Chương 3: Kết quả nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày kết quả thực nghiệm bao gồm các phân tích, giải thích về các mô tả thống kê, các phân tích về tương quan và hồi quy. Phần 3: Kết luận, trong phần này tác giả tổng hợp lại kết quả vấn đề và đưa ra những hạn chế của đề tài.
Chính những hạn chế này sẽ được dùng làm tiền đề cho các bài nghiên cứu sau này. 5 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1. KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 1.1 Khung lý thuyết liên quan đến quản trị lợi nhuận 1.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng Lý thuyết thông tin bất cân xứng được phát hiện vào những năm 1970 trong đó đề cập đến sự bất cân xứng thông tin về doanh nghiệp giữa các nhà quản lý với cổ đông bên ngoài. Nhà quản trị công ty có nhiều thông tin về doanh nghiệp hơn.
Do đó, họ tận dụng sự bất cân xứng thông tin để đánh lừa nhà đầu tư về hiệu quả hoạt động inh doanh và qua đó ảnh hưởng đến giá trị thị trường của công ty (Komalasiri, 2000). Nhà quản lý có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận tốt hơn so với thực tế để tăng mức thù lao được hưởng (Martinez, 2009). Lý thuyết đại diện Lý thuyết đại diện hay còn gọi là lý thuyết ủy quyền được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976) tập trung vào mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên đại diện. Lý thuyết đại diện lý giải cho việc tách biệt giữa quyền sở hữu với việc quản lý sử dụng nguồn lực dẫn đến vấn đề nhà quản lý có thể hành động theo lợi ích riêng của họ nhiều hơn so với lợi ích của chủ sở hữu Theo đó, bên đại diện sẽ có một số quyền hạn nhất định dựa trên sự ủy quyền của bên ủy quyền.
Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột lợi ích sẽ phát sinh khi có sự bất cân xứng thông tin (trạng thái bất cân bằng trong cơ cấu thông tin- các chủ thể giao dịch có mức độ nắm giữ thông tin không ngang bằng nhau) giữa bên ủy quyền và bên đại diện. Một loại lý thuyết đại diện đó là quản trị lợi nhuận. Các vấn đề của lý thuyết đại diện nói chung và quản trị lợi nhuận nói riêng là biểu hiện của hành vi cơ hội (Healey và Wahlen, 1999). Quản trị lợi nhuận xảy ra khi nhà quản lý, các giám đốc điều hành công ty cố gắng thực hiện các hành động nhằm làm thay đổi hoặc ảnh hưởng đến kết quả báo cáo tài chính của công ty bằng cách thao túng các khoản phi tiền mặt khác hoặc lựa chọn các chính sách kế toán thích hợp để thay đổi lợi nhuận kế toán theo chiều hướng có lợi cho họ (Healey, 1985; Holtahaisen, Larcher và Sloan, 1995).
6 Trong công ty cổ phần, mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên đại diện bao gồm mối quan hệ giữa chủ sở hữu (cổ đông) và nhà quản lý thông qua việc cổ đông ủy quyền điều hành doanh nghiệp cho nhà quản lý và mối quan hệ giữa chủ nợ và cổ đông thông qua việc chủ nợ ủy quyền cho cổ đông sử dụng vốn do chủ nợ cấp tín dụng. Trong mối quan hệ giữa cổ đông và nhà quản lý, thông thường sự bất cân xứng thông tin xảy ra theo chiều hướng nhà quản lý sẽ biết nhiều thông tin hơn cổ đông, chẳng hạn thông tin về khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của công ty cũng như những rủi ro hiện có của công ty. Theo đó, nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích cá nhân thay vì tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Chẳng hạn, các nhà quản lý e ngại rủi ro sẽ bỏ qua những cơ hội kinh doanh mang lại lợi nhuận mà trong đó các cổ đông của công ty sẽ thích đầu tư.
Hoặc là các quản lý được trả lương thưởng dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh của công ty thì có thể tìm mọi cách để đạt được kết quả kinh doanh tốt hơn với mong muốn nhận được lợi ích từ đó. Quyền lợi của nhà quản lý về chế độ tiền lương, thưởng và chính sách thăng tiến trong công ty được gắn chặt với hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty khiến các nhà quản lý có những hành vi quản trị lợi nhuận nhằm điều chỉnh lợi nhuận kế toán theo hướng có lợi. Quản trị lợi nhuận là một trong những loại hành vi cơ hội ( Burgastakler và Dichev, 1997; Healey và Wahlen, 1999). Trong mối quan hệ giữa chủ nợ và cổ đông của công ty, sự bất cân xứng thông tin xảy ra theo chiều hướng cổ đông của công ty sẽ biết nhiều thông tin hơn chủ nợ.
Nếu công ty sử dụng vốn vay không hiệu quả, hoạt động kinh doanh kém có thể dẫn đến rủi ro cho chủ nợ là không thể thu hồi được vốn vay. Vì vậy, khi quyết định cho vay, các chủ nợ thường đánh giá rủi ro mà chủ yếu là dựa vào tình hình tài chính của công ty được thể hiện qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đã được kiểm toán. Báo cáo tài chính công ty có kết quả lợi nhuận cao thường được các chủ nợ đánh giá là ít rủi ro và ra quyết định cho vay. Và nhà quản trị có thể thực hiện quản trị lợi nhuận thông qua các chính sách kế toán của mình theo hướng điều chỉnh lợi nhuận tốt hơn, tăng giá trị thị trường của công ty để đạt được các điều khoản có lợi hơn trong hợp đồng vay nợ của mình.
Khi xác định các điều khoản trong hợp đồng vay, các thông tin tài chính được sử dụng để giảm thiểu các bất lợi lựa chọn, điều này hữu ích trong việc 7 đánh giá hiệu quả hoạt động và vị thế tài chính của người đi vay. Mặt khác, các vấn đề rủi ro đạo đức, sự chuyển dịch rủi ro hoặc sự chi trả cổ tức quá nhiều (Jensen và Meckling, 1976; Smith và Warner, 1979) có thể được giảm thiểu bởi các điều khoản nợ dựa trên số liệu kế toán. Thậm chí trong trường hợp thiếu các điều khoản dựa trên số liệu kế toán, các thông tin tài chính đóng vai trò quan trọng trong quyết định cho vay, bởi vì các ngân hàng đánh giá rủi ro vỡ nợ dựa trên những thông tin này, đặc biệt là dựa vào lợi nhuận. Quản trị lợi nhuận được thực hiện nhằm giúp các công ty đạt được các thỏa thuận tốt hơn trong các hế ước nợ hay tránh được áp lực từ các điều khoản nợ đã ràng buộc ở các hợp đồng đã được ký kết từ trước (Kamel và Elbana, 2010; Mulford Comiskey, 2012).
Lý thuyết tín hiệu Lý thuyết tín hiệu được nhắc đến từ đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, Spence là người đưa ra lý thuyết tính hiệu. Lý thuyết tín hiệu cho rằng nhà quản trị công ty sử dụng tín hiệu tốt như là công cụ bắn tín hiệu đến thị trường về tình hình sản xuất kinh doanh của họ. Lý thuyết phát tín hiệu dựa trên nền tảng thông tin bất cân xứng, nghĩa là khi có sự bất cân xứng thông tin thì bên nắm giữ thông tin cần phát tín hiệu cho bên cần thông tin nhằm đạt được một mục tiêu nào đó. Các công ty có khả năng sinh lời cao sẽ cung cấp tín hiệu thông qua các thuyết minh nhằm tăng sức cạnh tranh của mình (Bini và cộng sự, 2010).
Khi có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát các nguồn lực của công ty, nhà quản lý chính là người trực tiếp điều hành các hoạt động của công ty nên sẽ nắm rõ các thông tin về hiệu quả hoạt động thực tế của công ty. Chính vì vậy, nó làm nảy sinh vấn đề bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và chủ sở hữu của công ty. Tuy nhiên, nhà quản trị lại có xu hướng vận dụng chính sách kế toán để tác động vào các báo cáo tài chính và cung cấp những thông tin theo hướng có lợi, nhằm đạt được mong muốn cá nhân (Hofstede, 1980; Gomez và Mejia, 1995; Healey và Wahlen, 1999; Carpenter và Sandow, 2002; Markaria và cộng sự, 2008). Theo lý thuyết tín hiệu thì trong trường hợp này nhà quản trị không phát tín hiệu hoặc phát tín hiệu không chính xác cho chủ sở hữu, cổ đông của công ty và nhà đầu tư.
Điều này có thể gây bất lợi cho công ty, nếu chủ sở hữu của công ty sử dụng những thông tin này 8 để ra các quyết định. Để đảm bảo báo cáo tài chính được lập phù hợp với các chuẩn mực kế toán và các quy định của pháp luật, đòi hỏi phải có sự kiểm tra của một bên thứ ba là công ty kiểm toán độc lập. Các nghiên cứu cho rằng, các công ty có quy mô nợ càng lớn và hệ số nợ càng cao thì càng có nhiều khả năng nhà quản lý sẽ thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận để che giấu tình trạng thực sự của công ty (Zager Mamedova, 2009; Iatridis và Kadorinis, 2009; Dyreng và cộng sự,2011; Chamberlain và cộng sự, 2014). Khi tình hình công ty gặp hó hăn, nhà quản trị sẽ thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận thông qua việc vận dụng các chính sách kế toán để các nội dung trên báo cáo tài chính không gây bất lợi cho nhà đầu tư và chủ nợ, nhằm tránh gây áp lực cho họ.
Theo lý thuyết tín hiệu thì trong trường hợp này công ty đã hông phát tín hiệu hoặc phát tín hiệu không chính xác cho nhà đầu tư và chủ nợ. Do đó, lý thuyết tín hiệu được vận dụng để giải thích ảnh hưởng của nhân tố quy mô, hệ số nợ đối với hành vi quản trị lợi nhuận của công ty. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm và các giả thuyết kỳ vọng 1.