chương 1 cũng trình bày phạm vi nghiên cứu, phương pháp tiến hành nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và cấu trúc luận văn. 8 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày các cơ sở lý thuyết để làm rõ vấn đề nghiên cứu, dựa trên việc phân tích các lý thuyết nền tảng nhằm xây dựng các mô hình giả thuyết cho luận văn. Bên cạnh đó chương này cũng giới thiệu tổng quan về một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về các nhân tố thuộc đặc điểm của HĐQT tác động đến hành vi QTLN. Qua đó, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp và đưa ra nhận xét để tìm ra khoảng trống nghiên cứu.
Nội dung ở chương này được trình bày bao gồm: - Các khái niệm cơ bản. - Mô hình đo lường hành vi QTLN. - Các lý thuyết nền tảng. - Các nghiên cứu trên thế giới - Các nghiên cứu ở Việt Nam - Khoảng trống nghiên cứu 2.
Các khái niệm cơ bản 2. Hội đồng quản trị Đi kèm sự phát triển đất nước thì nhiều loại hình doanh nghiệp cũng ra đời như công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã… Tùy vào mục đích và vốn mà chủ thể doanh nghiệp sẽ lựa chọn được mô hình phù hợp. Mô hình công ty cổ phần đã không còn quá xa lạ, tuy nhiên để lựa chọn loại mô hình kinh doanh này thì các chủ thể phải nắm rõ các nội dung có liên quan đến HĐQT. HĐQT là một cơ chế quản trị công ty quan trọng, có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo một tổ chức hoạt động kinh doanh và bảo vệ lợi ích của tất cả các bên liên quan (Fama và Jensen, 1976).
Trong nghiên cứu Al Azeez và cộng sự (2019) có nêu vai trò của HĐQT là bảo vệ lợi ích của cổ đông trong một nền kinh tế cạnh tranh nhưng vẫn duy trì tính chuyên nghiệp và trách nhiệm của người quản lý để đạt được kết quả hoạt động tốt nhất. 9 Theo quy định của điều 153 Luật doanh nghiệp Việt Nam 2020 có định nghĩa: “Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết đinh, thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty, trừ các quyền và nghĩa vụ thuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông. Lợi nhuận Từ lâu lợi nhuận không còn là khái niệm xa lạ mà rất phổ biến và được định nghĩa theo nhiều trường phái khác nhau. Trong kinh tế học, lợi nhuận được coi là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận được sau khi đã trừ các chi phí có liên quan đến quá trình đầu tư đó.
Trong lĩnh vực kế toán, lợi nhuận là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất. Như vậy, lợi nhuận chính là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình hoạt động kinh doanh. Đó chính là phần kết quả cuối cùng và cũng là yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Theo Chuẩn mực kế toán số 17 thì “Lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán”.
Quản trị lợi nhuận 2. Định nghĩa quản trị lợi nhuận Blom (2009) xác định QTLN là sự can thiệp có mục đích của người quản lý trong việc trình bày BCTC nhằm thu được lợi ích cá nhân hoặc cho công ty. Dựa trên định nghĩa này, việc QTLN không mang tính thông tin cho các cổ đông mà nó mang tính cơ hội. Theo Healy và Wahlen (1999) khi nhà quản lý sử dụng các xét đoán để thay đổi số liệu trên BCTC nhằm đánh lừa các bên liên quan về tình hình hoạt động kinh tế cơ bản của công ty.
Hành vi QTLN lợi nhuận xảy ra vì nhiều lý do. Ví dụ các công ty QTLN nhằm tác động đến nhận thức của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 10 dẫn đến lựa chọn bất lợi vì nhận thông tin sai lệch về hoạt động kinh tế thực (Bhattacharya, Daouk, & Welker, 2003). QTLN được mô tả là việc cố ý trình bày sai về tình trạng tài chính của một doanh nghiệp được thực hiện thông qua việc cố ý khai báo sai hoặc bỏ sót các số liệu hoặc công bố thông tin trong BCTC để đánh lừa người sử dụng BCTC (Wells và cộng sự, 1993). QTLN là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả hành động cố ý của nhà quản lý nhằm thao túng thu nhập ròng được báo cáo bằng cách dựa trên các phương pháp kế toán cụ thể để thực hiện các thay đổi có lợi cho lợi ích tương ứng (Jensen, 2004).
Do đó, hành động này ảnh hưởng đến uy tín, danh tiếng và cổ phiếu của công ty, QTLN tích cực cũng phát sinh do việc sử dụng các biện pháp tùy ý có sẵn theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung cho phép các nhà quản lý tạo hoặc cung cấp các số liệu kế toán cần thiết cho các nhà đầu tư và các bên liên quan, đồng thời che giấu các sự kiện thực tế (Yorke và cộng sự, 2016). Như vậy, có rất nhiều nghiên cứu về hành vi QTLN tuy nhiên vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về hành vi này do mỗi định nghĩa đưa ra chỉ mang tính chất phù hợp của mỗi nhà nghiên cứu. Từ những định nghĩa nêu trên cho thấy rằng hành vi QTLN là việc sử dụng những kỹ thuật kế toán để tạo nên bức tranh BCTC đẹp trong mắt người sử dụng, thông qua việc vận dụng các công cụ, phương pháp kế toán. Do đó, cần có nhiều kiểm soát khác nhau được sử dụng hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhằm cải thiện chất lượng thông tin BCTC.
Phân loại quản trị lợi nhuận Nghiên cứu Healy và Wahlen (1999) có chia hành vi QTLN thành hai loại: QTLN dựa trên cơ sở dồn tích và QTLN dựa trên nghiệp vụ kinh tế phát sinh vì thu nhập là tổng các khoản tích lũy và dòng tiền hoạt động. Một số nghiên cứu thực nghiệm cho thấy bằng chứng đáng kể rằng các công ty QTLN bằng cách thao túng các hoạt động điều hành và đầu tư, đặc biệt là thao túng các khoản chi tiêu tùy ý. Các 11 nghiên cứu cũng đã kiểm tra sự thao túng của các công ty đối với sản xuất, hàng tồn kho và bán hàng nhằm tạo ra thu nhập ổn định và đạt được các mục tiêu thu nhập (Roychowdhury, 2006). Về vấn đề này, các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các công ty có thể sử dụng thu nhập từ việc bán tài sản dài hạn để thu nhập ổn định và đạt được dự báo về thu nhập (Bartov, 1993; Herrmann và cộng sự, 2003).
Ngô Hoàng Điệp (2019) định nghĩa QTLN dựa trên cơ sở dồn tích là hành vi người quản lý vận dụng các chính sách kế toán như hàng tồn kho, ghi nhận doanh thu và bán hàng, ghi nhận chi phí vốn hóa… nhằm tác động đến lợi nhuận doanh nghiệp. Còn QTLN dựa trên nghiệp vụ kinh tế phát sinh là người quản lý tác động vào các nghiệp vụ kinh tế trong quá trình hoạt động kinh doanh chính, hoạt động tài chính hay hoạt động đầu tư như cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển, chí phí quảng cáo, chi phí đào tạo…thông qua đó làm thay đổi chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC. Qua quá trình tìm hiểu thì tác giả nhận thấy QTLN dựa trên cơ sở dồn tích là phương pháp tiếp cận được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về hành vi QTLN. Do đó trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn tiếp cận dựa trên cơ sở dồn tích và dùng biến DA để đo lường hành vi QTLN.
Mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận 2. Mô hình của Healy (1985) Mô hình của Healy (1985) có thể được xem là mô hình đầu tiên thông qua việc sử dụng biến DA để đo lường hành vi QTLN. Ông lập luận rằng biến dồn tích TA đó là lợi nhuận trên BCTC trừ đi dòng tiền hoạt động kinh doanh, vì QTLN chỉ có thể thực hiện trong một thời gian nhất định. Vì biến NDA và DA rất khó quan sát do vậy ông giả định rằng phần dồn tích bình thường NDA không thay đổi từ năm này qua năm khác và không chịu tác động bởi nhà quản trị, còn biến DA khi xét trong khoảng thời gian thì tổng sẽ bằng không.
Ngược lại hành vi QTLN xuất hiện nếu tổng dồn tích TA khác không. 𝑇𝐴𝑖𝑡 𝐷𝐴𝑖𝑡 = A𝑖𝑡−1 12 Trong đó: 𝐷𝐴𝑖𝑡 : Biến dồn tích bất thường 𝑇𝐴𝑖𝑡 : Tổng biến dồn tích năm t A𝑖𝑡−1 : Tổng tài sản năm t-1 Mô hình của Healy (1985) được xem là một trong những mô hình đầu tiên dùng để tính toán và phát hiện hành vi QTLN do đó còn nhiều thiếu sót và hạn chế. Mô hình của DeAngelo (1986) Mô hình của DeAngelo (1986) thể hiện rằng phần dồn tích bình thường NDA được đo lường theo giá trị ngẫu nhiên. Với lập luận rằng khi doanh nghiệp tại trạng thái đứng yên thì biến NDA sẽ bằng nhau giữa 2 thời điểm là t và t-1 đây chính là điểm khác biệt xuất hiện hành vi QTLN.
𝑇𝐴𝑖𝑡 − 𝑇𝐴𝑖𝑡−1 𝐷𝐴𝑖𝑡 = A𝑖𝑡−1 Trong đó: 𝐷𝐴𝑖𝑡 : Biến dồn tích bất thường 𝑇𝐴𝑖𝑡 : Tổng biến dồn tích năm t 𝑇𝐴𝑖𝑡−1 : Tổng biến dồn tích năm t-1 A𝑖𝑡−1 : Tổng tài sản năm t-1 So với mô hình Healy (1985) thì dù đã có sự phát triển trong biến TA với giả định NDA không đổi theo thời gian nhưng mô hình DeAngelo (1986) cũng không có được kết quả chính xác. Mô hình của Jones (1991) Với mục đích khắc phục các nhược điểm của mô hình Healy (1985) và mô hình DeAngelo (1986), Jones (1991) nhận thấy rằng mức độ hoạt động kinh doanh có ảnh hưởng đến NDA. Nếu doanh thu không được hạch toán đúng niên độ thì việc xác đinh NDA không còn ý nghĩa, do đó ông đã thêm biến doanh thu (Δ𝑅𝐸𝑉) và biến 13 tài sản cố định (PPE) như là hai biến độc lập vào mô hình để đo lường biến phụ thuộc DA. Tổng giá trị dồn tích (𝑇𝐴𝑖𝑡 ) = Lợi nhuận kế toán sau thuế - Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh Khi đó NDA xác định ở năm sự kiện t như sau: 𝑁𝐷𝐴𝑖𝑡 1 Δ𝑅𝐸𝑉𝑖𝑡 PP𝐸𝑖𝑡 = 𝛼1 ( ) + 𝛼2 ( ) + 𝛼3 ( ) A𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 A𝑖𝑡−1 A𝑖𝑡−1 Trong đó: 𝑁𝐷𝐴𝑖𝑡 : Phần dồn tích không thể điều chỉnh của doanh nghiệp i năm t.
𝐴𝑖𝑡−1 : Giá trị tài sản của doanh nghiệp i tại năm t-1, số liệu được thu thập từ bảng cân đối kế toán.