Chương 1. Giới thiệu Chương 2. Tổng quan về ảnh hưởng của các nhân tố cấu trúc sở hữu, quản trị đến hiệu quả hoạt động của công ty Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận, hàm ý và hạn chế của luận văn 4 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC NHÂN TỐ CẤU TRÚC SỞ HỮU, QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 2. Hiệu quả hoạt động Khái niệm về hiệu quả hoạt động trong tài chính mang ý nghĩa khá rộng.
Trong nhiều nghiên cứu khoa học, hiệu quả hoạt động công ty được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau. Hult và các cộng sự (2008) trong đánh giá cách thức đo lường hiệu quả hoạt động của các nghiên cứu về doanh nghiệp kinh doanh quốc tế đã cho thấy có ba tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động thường được sử dụng là hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh doanh và hiệu quả tổng hợp. Hiệu quả tài chính bao gồm các chỉ tiêu về lợi nhuận (ROI, ROA, ROS, ROE), doanh thu, EPS, Tobin’s Q. Hiệu quả kinh doanh bao gồm thị phần, chất lượng hàng hóa/dịch vụ, năng suất lao động, mức độ hài lòng của người lao động.
Hiệu quả tổng hợp gồm uy tín, khả năng tồn tại, hiệu quả so với đối thủ cạnh tranh, mức độ đạt mục tiêu. Kết quả cho thấy hiệu quả tài chính trong các công ty được đo lường phổ biến nhất là chỉ tiêu doanh thu (44%), ROA (40%); hiệu quả kinh doanh được đo lường phổ biến bằng chỉ tiêu thị phần (47%) và hiệu quả tổng hợp được đo lường phổ biến nhất bằng uy tín (30%). Ngoài ra, đa số các nghiên cứu (44,8%) tập trung phân tích số liệu công ty và sử dụng chỉ tiêu tài chính khi đo lường hiệu quả hoạt động. 5 Trong các nghiên cứu khoa học, hiệu quả tài chính thường được đo lường thông qua các cách tiếp cận như: tiếp cận thị trường, tiếp cận từ báo cáo tài chính và tiếp cận kết hợp.
Tiếp cận thị trường xem hiệu quả tài chính là tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư vào cổ phiếu của công ty đang xem xét. Tiếp cận từ báo cáo tài chính là dựa vào thông tin do công ty cung cấp, chủ yếu là từ các báo cáo tài chính với các chỉ tiêu thường được sử dụng như ROA, ROE…Với cách tiếp cận kết hợp cả 2 khía cạnh thị trường và báo cáo tài chính, các nhà nghiên cứu thường sử dụng chỉ tiêu Tobin’s Q hoặc tỷ số giá thị trường/giá sổ sách. Như vậy, hiệu quả hoạt động của các công ty cổ phần được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng khảo sát và nguồn dữ liệu. Cấu trúc sở hữu Cấu trúc sở hữu được phân loại gồm cấu trúc sở hữu tập trung và phân tán.
Trong cấu trúc sở hữu tập trung, cả quyền sở hữu lẫn kiểm soát công ty tập trung vào tay một số cá nhân hoặc một nhóm cổ đông có liên quan như các thành viên trong gia đình có sở hữu cổ phần chi phối (quá 50% số phiếu bầu). Trong nhóm công ty này, cổ đông thiểu số không thể tác động vào các quyết định cao cấp mặc dù có quyền biểu quyết. Trong cấu trúc sở hữu phân tán thì có nhiều cổ đông, các cổ đông thiểu số có quyền biểu quyết tham gia vào quá trình ra quyết định. Tuy nhiên, các cổ đông nhỏ ít có động lực để kiểm tra chặt chẽ hoạt động và không muốn tham gia điều hành công ty, vì vậy mà quyền kiểm soát hoạt động công ty thường do BGĐ nắm giữ.
Bên cạnh đó, vấn đề sở hữu nhà nước trong công ty cổ phần cũng thường được nghiên cứu khi bàn về cấu trúc sở hữu. Như đã biết, sở hữu nhà 6 nước là sở hữu toàn dân, do nhà nước làm đại diện. Tuy nhiên, phần vốn nhà nước trong CTCP phải có đại diện chủ sở hữu nhà nước, làm nảy sinh vấn đề đại diện giữa nhà nước (bên ủy thác) và người đại diện (bên nhận ủy thác). Mặt khác, khi bên đại diện cho nhà nước (ví dụ ở Việt Nam là Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước SCIC) không trực tiếp điều hành công ty mà tiếp tục cử đại diện tham gia vào các CTCP thì lại làm nảy sinh tiếp vấn đề đại diện giữa người đại diện nhà nước và người điều hành công ty.
Như vậy, mô hình đại diện này có quá nhiều chủ thể, qua nhiều trung gian, lại nặng về hành chính dẫn đến nhiều bất cập, không có người chịu trách nhiệm cuối cùng về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, ngày nay vấn đề tỷ lệ sở hữu của ban điều hành như tỷ lệ sở hữu của HĐQT hay BGĐ cũng rất được các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm phân tích để xem xét mức độ sở hữu của họ có tương quan thế nào đến hiệu quả hoạt động của công ty. Quản trị công ty Có khá nhiều định nghĩa về “Corporate governance” (quản trị công ty/điều hành công ty) tùy thuộc vào các tác giả, thể chế pháp lý, các quy định cũng như môi trường tổ chức. Nhưng nhìn chung, quản trị công ty được hiểu theo ý nghĩa khái quát sau: Theo “Các nguyên tắc quản trị công ty” của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) xuất bản năm 1999 thì Quản trị công ty là hệ thống người ta xây dựng để điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp.
Cấu trúc quản trị công ty chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới doanh nghiệp như HĐQT, Giám đốc, cổ đông, và những chủ thể khác có liên quan. Cấu trúc quản trị công ty 7 cũng giải thích rõ quy tắc và thủ tục để ra các quyết định liên quan tới vận hành doanh nghiệp. Bằng cách này, cấu trúc quản trị công ty cũng đưa ra cấu trúc thông qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc. “Quản trị công ty giải quyết vấn đề mà các nhà đầu tư tài chính cho doanh nghiệp đảm bảo quyền lợi của mình có thể thu về lợi tức từ các khoản đầu tư của mình” (Shleifer and Vishny, (1997, trang 737)).
Theo Denis và McConnell (2003), quản trị công ty là thiết lập cơ chế nhằm kiểm soát tính tư lợi của những người điều hành để họ đưa ra những quyết định có thể tối đa hóa giá trị của công ty cho cổ đông. Theo Maw và cộng sự (1994) thì quản trị công ty là chủ đề mặc dù được định nghĩa mờ nhạt nhưng xem như đối tượng, mục tiêu và thể chế để đảm bảo điều tốt đẹp cho cổ đông, nhân viên, khách hàng, chủ nợ và thúc đẩy danh tiếng, vị thế của nền kinh tế. Theo Điều 2, Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán/trung tâm giao dịch chứng khoán được ban hành kèm theo Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 có giải thích “Quản trị công ty là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty”. Tóm lại, ta có thể hiểu rằng quản trị công ty là phương thức mà cổ đông sử dụng quyền và nghĩa vụ của mình để quản lý một cách hiệu quả nhất tình hình hoạt động và phân phối quyền lợi của công ty.
Tổng quan về một số kết quả nghiên cứu trước đây 2. Cấu trúc sở hữu với hiệu quả hoạt động Bằng phương pháp hồi quy sử dụng sở hữu nhà nước là một trong nhiều biến độc lập, bao gồm sở hữu của ngân hàng, các công ty phi tài chính, gia đình, nhà đầu tư nước ngoài, chính phủ, nhà đầu tư có tổ chức, Thomsen & Pedersen (2000) thu được kết quả nghiên cứu cho thị trường châu Âu. Theo đó, tác động của sở hữu nhà nước đối với hiệu quả tài chính là khá tiêu cực. Cơ sở dữ liệu của nghiên cứu này là dữ liệu chuỗi thời gian 6 năm (1990 - 1995) với 435 công ty lớn nhất ở 12 nước châu Âu.
Tại Trung Quốc, kết quả nghiên cứu của Tian và Estrin (2008) với cơ sở dữ liệu hơn 9.000 quan sát trong vòng 10 năm trên thị trường chứng khoán Trung Quốc cho thấy tỷ lệ sở hữu của nhà nước không làm giảm hiệu quả của công ty mà có tác dụng tích cực nếu tỷ lệ sở hữu đạt từ 25% trở lên trong doanh nghiệp. Cụ thể, mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính của doanh nghiệp với tỷ lệ sở hữu nhà nước có dạng chữ U: giá trị công ty giảm khi tỷ lệ sở hữu nhà nước tăng lên nhưng sẽ bắt đầu tăng lên từ ngưỡng 25%. Ngoài ra, nghiên cứu của Trien Le và Chizema (2011) trên thị trường chứng khoán Trung Quốc từ năm 2004-2005 cũng cho thấy tỷ lệ sở hữu nhà nước có tương quan dương với hiệu quả hoạt động. Imam và Malik (2007) nghiên cứu quản trị công ty thông qua cấu trúc sở hữu được thực thi như thế nào và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ra sao ở Bangladesh.
Hiệu quả hoạt động được đo lường bởi lợi nhuận, Tobin’Q và tỷ lệ chi trả cổ tức. Cấu trúc sở hữu được chia thành tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu công chúng, tỷ lệ sở hữu của các tổ chức và tỷ lệ sở hữu của các nhà tài trợ. Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối tương 9 quan dương có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động. Bên cạnh đó, những công ty với tỷ lệ sở hữu của các tổ chức cao thì có tỷ lệ chi trả cổ tức cao và những công ty có tỷ lệ sở hữu tập trung cao thì chi trả cổ tức thấp hơn.
Gillan và Starks (2010) phân tích danh mục đầu tư của các tổ chức trong công ty từ 23 quốc gia trong giai đoạn 2003-2008 đã chứng minh rằng có mối tương quan dương giữa trình độ quản trị công ty với tỷ lệ sở hữu của các tổ chức đầu tư. Những công ty với quyền sở hữu của các tổ chức đầu tư cao hơn có nhiều khả năng chấm dứt hoạt động kém hiệu quả của CEO và cho thấy sự tăng giá trị công ty qua thời gian. Fauzi và Locke (2012) nghiên cứu 79 công ty niêm yết ở New Zealand giai đoạn 2007-2011 cho thấy quy mô HĐQT và tỷ lệ sở hữu của BGĐ có tương quan dương với hiệu quả hoạt động của công ty.