CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã trình bày các nội dung tổng quan về đề tài nghiên cứu. Sau khi trình bày lí do chọn đề tài, tác giả đã xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quan của đề tài là đánh giá sự tác đô ̣ng của những yế u tố về cơ chế quản tri đế ̣ n mức đô ̣ quản tri lơ ̣ ̣i nhuâ ̣n của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Từ đó, tác giả đã xây dựng các mục tiêu nghiên cứu cụ thể, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã nêu bật được ý nghĩa của việc thực hiện đề tài nghiên cứu về mặt lý luận và phương pháp nghiên cứu cũng như về mặt thực tiễn.
6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÍ THUYẾT Trong chương này, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết nền tảng xung quanh vấn đề nghiên cứu, bao gồm lý thuyết đại diện và lý thuyết thông tin bất cân xứng. Nội dung chương cũng sẽ trình bày các quan điểm về hoạt động quản trị lợi nhuận và những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp. Đồng thời, tác giả cũng trình bày về cơ chế quản tri ̣ doanh nghiê ̣p và mối quan hệ tác động của cơ chế quản trị doanh nghiệp đế n mức độ quản tri ̣ lợi nhuận của doanh nghiệp.1 Các lí thuyết nền tảng 2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) Lý thuyết đại diện lần đầu tiên được đề xướng bởi Ross (1973) và sau này được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976). Lý thuyết đại diện xoay quanh mối quan hệ giữa hai chủ thể là bên ủy nhiệm (principal) và bên được ủy nhiệm hay còn được gọi là bên đại diện (agent).
Theo đó, bên ủy nhiệm sẽ kí kết hợp đồng với bên đại diện, trong đó thỏa thuận về các công việc mà bên đại diện được ủy thác thực hiện cho bên ủy nhiệm. Cả hai bên ủy nhiệm và đại diện trong mối quan hệ này đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình. Tuy nhiên, thực tế là luôn tồn tại mâu thuẫn trong mối quan hệ lợi ích giữa các bên vì tồn tại tình trạng thông tin bất cân xứng. Thông thường, bên ủy nhiệm mong đợi bên đại diện sẽ hành xử theo hướng có lợi nhất cho mình, nhưng ngược lại, bên đại diện đôi khi lại theo đuổi những lợi ích của bản thân họ trước.
Chính vì thế mà trong mối quan hệ giữa hai bên luôn tồn tại mâu thuẫn và phát sinh một khoản chi phí gọi là chi phí đại diện. Theo Jensen và Meckling (1976), chi phí đại diện xuất phát từ việc tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, phát sinh khi ban quản lý có động cơ để tiến hành các hoạt động tư lợi cho bản thân và có thể làm hại đến quyền lợi của cổ đông. Trong mối quan hệ giữa cổ đông và ban quản lý doanh nghiệp, cổ đông kí hợp đồng với ban quản lý doanh nghiệp với mong muốn các nhà quản lý làm gia tăng giá trị công ty, tối đa hóa lợi ích cho cổ đông, thông qua các biểu hiện như kết quả kinh doanh tốt kéo dài trong ngắn hạn và bền vững trong dài hạn. Tuy nhiên, do tính chất có 7 thời hạn của hợp đồng, ban quản lý doanh nghiệp thường chỉ quan tâm đến giai đoạn mà họ điều hành doanh nghiệp và ưu tiên theo đuổi những lợi ích của cá nhân mình trước.
Thêm vào đó, các hợp đồng ủy nhiệm lại thường đưa ra cơ chế lương thưởng cho ban quản lý doanh nghiệp dựa trên kết quả kinh doanh như doanh thu, lợi nhuận trong hiện tại. Và tất nhiên, để có được mức lương thưởng này, ban quản lý doanh nghiệp phải làm sao cho doanh nghiệp đạt lợi nhuận tốt nhất trong thời gian mà họ điều hành mà bỏ qua các cơ hội phát triển bền vững trong tương lai. Chính lúc này, các nhà quản lý bị áp lực thỏa mãn mục tiêu cá nhân chi phối dẫn đến hành vi tư lợi cá nhân. Một trong các cách thức phổ biến nhất để thực hiện là các nhà quản lý tác động đến các thông tin tài chính của công ty như doanh thu, lợi nhuận bằng các biện pháp làm đẹp báo cáo tài chính.
Để giải quyết vấn đề này, lý thuyết đại diện cũng chỉ ra các biện pháp hạn chế hành vi tư lợi của nhà quản lý như xây dựng chế độ đãi ngộ (compensation mechanisms) và thiết lập cơ chế giám sát (supervisory mechanisms).2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng Thông tin bất cân xứng (information asymmetry) là tình trạng trong một giao dịch có một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại (George Akerlof, 1970). Tình trạng thông tin bất cân xứng hiện diện trong rất nhiều lĩnh vực từ kinh tế cho đến đời sống xã hội. Trong hoạt động tín dụng, tình trạng thông tin bất cân xứng xảy ra khi các ngân hàng là người có ít thông tin hơn về dự án, về kế hoạch đầu tư và mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng. Do đó, các nhà quản trị công ty có nhiều thông tin hơn, có thể có những hành vi gây tổn hại đến bên có ít thông tin hơn là ngân hàng.
Vấn đề thông tin bất cân xứng sẽ dẫn đến ba hệ quả sau: (i) Thứ nhất, trước khi ký kết hợp đồng vay vốn, ban quản trị công ty sẽ cố gắng che dấu bớt các thông tin bất lợi để được ngân hàng phê duyệt cho vay. Lúc này, vấn đề lựa chọn bất lợi (adverse selection) xảy ra: ngân hàng sẽ cấp tín dụng cho những người đi vay tiềm ẩn rủi ro cao. (iii) Thứ ba, vấn đề người ủy thác và người đại diện xảy ra: các nhà quản trị công ty có nhiều thông tin hơn và do đó họ sẽ tiến hành các quyết định đầu tư có lợi 8 cho bản thân mà không quan tâm đến lợi ích của cổ đông. Kết quả là hiệu quả đầu tư bị ảnh hưởng đáng kể, dẫn đến hiện tượng đầu tư quá mức hoặc dưới mức và mâu thuẫn giữa các cổ đông và chủ nợ công ty (Myer và Majluf, 1984).
Cho dù là dẫn đến hệ quả nào, thì tình trạng thông tin bất cân xứng cũng đưa đến sự thất bại của thị trường.2 Quản trị lợi nhuận 2.1 Các khái niệm về quản trị lợi nhuận Dưới góc nhìn của công chúng, báo cáo tài chính (BCTC) là một hệ thống thông tin tài chính cung cấp cho người đọc tình hình sức khỏe tài chính của doanh nghiệp qua các con số về tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh và dòng tiền của một doanh nghiệp. Dưới góc nhìn của ban giám đốc doanh nghiệp, BCTC là phương tiện truyền tải những thông tin về khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những đối tượng quan tâm như cơ quan thuế, ngân hàng và các nhà đầu tư vốn. Cơ quan thuế sử dụng thông tin trên BCTC để xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp mà công ty phải nộp. Ngân hàng sử dụng thông tin trên BCTC để làm cơ sở thẩm định và ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay.
Các nhà đầu tư, các cổ đông nhìn vào thông tin trên BCTC để đưa ra quyết định mua, bán hoặc tiếp tục nắm giữ cổ phiếu của công ty. Do đó, để đạt được mục đích truyền tải thông tin theo chủ ý của mình đến từng đối tượng sử dụng BCTC, các nhà quản lý doanh nghiệp thường sử dụng các biện pháp tác động đến các thông tin tài chính của công ty như doanh thu và lợi nhuận. Bởi vì hai chỉ tiêu này là chỉ tiêu dễ gây chú ý nhất đối với người đọc khi xem báo cáo tài chính. Theo chuẩ n mực kế toán chung (GAAP), các công ty sử du ̣ng kế toán dồ n tić h nhằ m "cố gắ ng ghi nhận các ảnh hưởng tài chính đế n mô ̣t đơn vi ̣ qua các nghiê ̣p vu ̣ kinh tế phát sinh, các sự kiện và các tiǹ h hình phát sinh trong kỳ giao dịch, sự kiê ̣n, và hậu quả xảy ra hơn là chỉ trong giai đoạn mà tiền mặt được nhận hoặc thanh tóan bởi một đơn vi".̣ Bản chất của kế toán dồ n tić h cho phép các nhà quản lý có nhiều quyết định trong việc xác định thu nhập thực tế mà một công ty báo cáo trong một khoảng thời gian nhất định.
Viê ̣c quản lý đã kiểm soát đáng kể thời gian của các chi phí thực tế (ví dụ: chi phí quảng cáo hoặc chi phí cho nghiên cứu và phát triển). Ngoài ra, họ cũng 9 có thể thay đổi thời gian nhận biết doanh thu và chi phí, ví dụ như đẩy mạnh công nhận doanh số bán hàng thông qua việc bán tín dụng hoặc trì hoãn việc thừa nhận tổn thất bằng cách chờ đợi để thiết lập dự phòng tổn thất (Teoh et al. Healy và Wahlen (1998) đinh ̣ nghiã quản trị lơ ̣i nhuâ ̣n như sau: … khi các nhà quản lý sử dụng phán đoán trong báo cáo tài chính và trong viê ̣c xác đinh ̣ các giao dịch phát sinh để thay đổi các báo cáo tài chính nhằ m gây hiểu nhầm cho một số bên liên quan về hiệu quả kinh tế cơ bản của công ty hoặc ảnh hưởng đến các kết quả hợp đồng mà kế t quả này phụ thuộc vào số kế toán đã báo cáo (trang 6). Ngoài ra, theo Schipper (1989) thì điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp có tính toán trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân.
Theo Scott (1977) điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hành động của ban giám đốc trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty. Trong khi đó, Healy và Whalen (1999) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi ban giám đốc sử dụng các ước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ để nhằm thay đổi BCTC, đánh lạc hướng người sử dụng thông tin trên BCTC về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc làm ảnh hưởng đến kết quả của các hợp đồng mà phụ thuộc vào số liệu kế toán trên BCTC. Ronen và Yaari (2008) đã tổng hợp các nghiên cứu trước đó và đưa ra một định nghĩa về điều chỉnh lợi nhuận như sau: điều chỉnh lợi nhuận là hành vi của ban giám đốc sử dụng việc ghi nhận trên cơ sở dồn tích thông qua một số tài khoản để làm thay đổi lợi nhuận sau thuế theo các mục tiêu công bố thông tin của họ.