chương 1, tác giả đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây ở trong và ngoài nước. Từ đó, tác giả nhận thấy ở nước ngoài đã có nhiều nghiên cứu về mối tương quan giữa hành vi điều chỉnh thu nhập và khả năng hoạt động liên tục. Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa thấy có nghiên cứu nào nghiên cứu về vấn đề này, cho thấy có cơ sở để tác giả chọn đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của điều chỉnh lợi nhuận đến khả năng hoạt động liên tục của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khả năng hoạt động liên tục (Going Concern) 2.1 Khái niệm Theo Khuôn mẫu lý thuyết của IASB thì giả định hoạt động liên tục được phát biểu như sau: “Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là đơn vị đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động trong tương lai gần.
Theo giả định này đơn vị không có ý định cũng như không cần phải thanh lý hoặc phải thu hẹp phần lớn quy mô hoạt động của mình. Nếu giả định hoạt động liên tục không được đáp ứng thì báo cáo tài chính phải được lập trên một cơ sở khác và phải thuyết minh rõ ràng cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính”. Khái niệm trên được sử dụng và chấp nhận rộng rãi ở hầu hết tất cả các hệ thống kế toán trên thế giới. Tuy nhiên, các khuôn mẫu lý thuyết đã phát hành của FASB thì không nêu rõ khái niệm về giả định hoạt động liên tục.
Đối với chuẩn mực kế toán cập nhật của FASB số No.2014-15 về “Trình bày báo cáo tài chính- Hoạt động liên tục” được phát hành vào tháng 8 năm 2014 thì trong chuẩn mực đã đề cập đến giả định hoạt động liên tục là: “Hoạt động liên tục được xem như là cơ sở cho việc lập BCTC, trừ khi nhà quản lý có dự định thanh lý doanh nghiệp hoặc dừng hoạt động. Lập BCTC theo giả định này thường được gọi tắt là cơ sở hoạt động liên tục của kế toán. Chỉ khi doanh nghiệp thanh lý hoặc thu hẹp quy mô thì báo cáo tài chính sẽ được lập trên cơ sở kế toán thanh lý khác”. So với khái niệm của IASB thì khái niệm này cũng không khác biệt gì về mặt ý nghĩa.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 1, Chuẩn mực chung, ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, có quy định trong nội dung phần Các nguyên tắc cơ bản về nguyên tắc hoạt động liên tục: “ Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt 13 động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình. Trường hợp thực tế khác với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính.” Như vậy, về kế toán giả định hoạt động liên tục được hiểu là: - Cơ sở cho việc lập BCTC. - Doanh nghiệp sẽ không có ý định hoặc bắt buộc phải ngừng, thu hẹp kinh doanh.2 Trách nhiệm xem xét giả định hoạt động liên tục Theo IAS 1- Trình bày BCTC thì trách nhiệm trong việc xem xét về giả định hoạt động liên tục khi lập BCTC của một doanh nghiệp được quy định là trách nhiệm của nhà quản lý (Ban giám đốc hoặc người đứng đầu) của doanh nghiệp đó. Đối với US.GAAP hiện hành thì cũng yêu cầu cụ thể nhà quản lý phải đánh giá giả định hoạt động liên tục khi lập BCTC năm hoặc BCTC giữa niên độ.
Điều này đã được quy định bởi ASC 205-40 với nội dung là “Công bố những vấn đề không chắc chắn về giả định hoạt động liên tục” được phát hành chính thức vào ngày 27/08/2014. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21- Trình bày BCTC thì trách nhiệm xem xét giả định hoạt động liên tục trong tương lai là của Ban giám đốc doanh nghiệp. Điều này chứng tỏ vai trò hết sức quan trọng của Ban giám đốc doanh nghiệp đối với việc lập BCTC. Trách nhiệm đánh giá về khả năng hoạt động trong tương lai được giao cho họ bởi vì họ là đối tượng có quyền lực cao nhất trong doanh nghiệp và sẽ nhận thức rõ được tình hình kinh doanh, phương hướng hoạt động dài hạn của chính doanh nghiệp mình.
Tuy nhiên, đây cũng là một cơ hội tốt cho các hành vi che đậy nhằm làm đẹp BCTC khi mà việc đánh giá khả năng hoạt động liên tục vẫn còn dựa vào nhiều yếu tố xét đoán chủ quan và thiếu những hướng dẫn cụ thể nên tính thận trọng và độc lập rất có thể sẽ không được coi trọng đúng mực khi đánh giá giả định hoạt động liên tục.3 Dấu hiện vi phạm giả định hoạt động liên tục Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 570: Hoạt động liên tục thì một số lý do sau đây dẫn đến nghi ngờ đáng kể về giả định hoạt động liên tục của đơn vị. Về mặt tài chính - Đơn vị lâm vào tình trạng nợ phải trả lớn hơn tài sản hoặc nợ phải trả ngắn hạn lớn hơn tài sản lưu động. - Đơn vị có các khoản nợ dài hạn sắp đến hạn trả mà không có khả năng được giãn nợ hoặc không có khả năng thanh toán, hoặc đơn vị phụ thuộc quá nhiều vào các khoản vay ngắn hạn để tài trợ các tài sản dài hạn - Dấu hiệu về việc các chủ nợ ngừng hoặc thu hồi các hỗ trợ tài chính - Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh bị âm thể hiện trên báo cáo tài chính hay dự báo trong tương lai - Đơn vị có các chỉ số tài chính xấu hơn mức bình thường - Lỗ hoạt động kinh doanh lớn hoặc có sự suy giảm lớn về giá trị của các tài sản được dùng để tạo ra các luồng tiền - Nợ tồn đọng hoặc ngừng thanh toán cổ tức - Không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn - Không có khả năng tuân thủ các điều khoản của hợp đồng tín dụng - Chuyển đổi từ các giao dịch mua chịu sang mua thanh toán ngay với các nhà cung cấp - Không có khả năng tìm kiếm các nguồn tài trợ cho việc phát triển các sản phẩm mới thiết yếu hoặc các dự án đầu tư thiết yếu Về hoạt động - Ban Giám đốc có ý định ngừng hoạt động hoặc giải thể đơn vị; - Thiếu thành phần lãnh đạo chủ chốt mà không được thay thế; 15 - Mất một thị trường lớn, mất khách hàng quan trọng, mất quyền kinh doanh theo hình thức cấp phép, nhượng quyền thương mại hoặc mất nhà cung cấp quan trọng; - Gặp các vấn đề khó khăn về lao động; - Thiếu hụt vật tư đầu vào chủ yếu; - Xuất hiện đối thủ cạnh tranh mới thành công hơn; Các dấu hiệu khác - Không tuân thủ các quy định về góp vốn cũng như các quy định khác của pháp luật; - Đơn vị đang bị kiện và các vụ kiện này chưa được xử lý mà nếu đơn vị thua kiện có thể dẫn đến các khoản bồi thường không có khả năng đáp ứng được; - Thay đổi về pháp luật và các quy định hoặc chính sách của Nhà nước làm ảnh hưởng bất lợi tới đơn vị - Xảy ra các rủi ro, tổn thất mà không được bảo hiểm hoặc bảo hiểm với giá trị thấp.4 Cách thức đo lường Khả năng hoạt động liên tục là khái niệm để chỉ doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động trong tương lai gần. Khả năng không còn hoạt động là một hiện tượng kinh tế tự nhiên nhằm đào thải những doanh nghiệp yếu kém trước áp lực của quy luật cạnh tranh trên thị trường.
Do đó việc dự báo trước khả năng hoạt động liên tục trong tương lai của các doanh nghiệp là việc làm cần thiết và hết sức thiết thực nhằm giảm thiểu rủi ro, có biện pháp khắc phục cho kế hoạch tài chính, lợi nhuận và khả năng thanh khoản của công ty. Trên thế giới mô hình dự báo khả năng hoạt động liên tục đã xuất hiện từ khá lâu đời. Tuy nhiên, mô hình nào phù hợp với thị trường Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu tổng hợp đầy đủ. Bài viết này nhằm giới thiệu mô hình dự báo khả năng hoạt động liên tục Atman Z-Score, Springate Z-score, Fulmer H- Score và ứng dụng các mô hình này đã dự báo khả năng hoạt động liên tục của các 16 công ty niêm yết tại Việt Nam.
Cụ thể, cơ sở dữ liệu chủ yếu từ báo cáo tài chính nên thuận tiện cho việc phân tích lợi nhuận, khả năng áp dụng mô hình đơn giản, nhanh và dễ thực hiện. Ngoài ra mô hình này cũng đã được nghiên cứu ở một số quốc gia như Jordan, Thái Lan, Ấn Độ đều cho kết quả khả quan. Đây là một trong những cơ sở quan trọng để tác giả thực hiện dựa trên hai mô hình này.1 Mô hình Altman Z-score (1968) Nghiên cứu của Altman được xây dựng trên nghiên cứu của nhà nghiên cứu kế toán William Beaver và các cộng sự. Trong những năm 1930, Mervyn và những cộng sự đã thu thập những chỉ số kế toán khác nhau xuất hiện trong các báo cáo tài chính của các công ty phá sản.
Chỉ số Z của Altman là một kiểu trong kỹ thuật phân tích biệt số của R. Nghiên cứu của William Beaver công bố năm 1966 và 1968, lần đầu tiên áp dụng phương pháp thực hiện T-test để dự đoán phá sản của các công ty. Beaver áp dụng phương pháp này để đánh giá tầm quan trọng của mỗi chỉ số kế toán dựa trên phân tích đơn biến, sử dụng mỗi chỉ số một lần trong cùng một thời gian. Sự cải tiến của Altman so với nghiên cứu trước là áp dụng phân tích thống kê, phân tích biệt số, và có thực hiện đối với sự kết hợp đa dạng các khoản mục cùng lúc.
Altman sử dụng kỹ thuật phân tích biệt số trên cơ sở số liệu của 66 doanh nghiệp tại Mỹ. 66 doanh nghiệp này được phân thành 2 nhóm, mỗi nhóm gồm 33 doanh nghiệp. Nhóm 1 gồm các doanh nghiệp bị phá sản từ năm 1946 đến năm 1965. Nhóm 2 gồm các doanh nghiệp không bị phá sản và vẫn hoạt động bình thường đến năm 1966.