MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu Sự tồn tại và phát triển của DN trong nền kinh tế thị trƣờng phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố nhƣ môi trƣờng kinh doanh, trình độ quản lý của các nhà DN, trong đó có trình độ QLTC. Trong DN, các nhà quản lý sử dụng công cụ tài chính để góp phần đạt mục tiêu của mình. Nếu việc QLTC tốt sẽ giúp DN hoạt động hiệu quả và ngƣợc lại.
Vì lẽ đó, hoàn thiện công tác QLTC là bài toán luôn đƣợc đặt ra cho tất cả các DN. Bên cạnh đó, các DN hoạt động với mục tiêu tối thiểu hóa chi phí để tối đa hóa lợi nhuận. Do đó, hoàn thiện công tác QLTC sẽ góp phần giúp các DN thực hiện mục tiêu này. Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà có ngành nghề kinh doanh là đóng mới và sửa chữa phƣơng tiện thủy phục vụ các thành phần kinh tế, sản xuất khí oxy, xuất nhập khẩu trang thiết bị ngành đóng tàu.
Là đơn vị hoạt động có kinh nghiệm nhiều năm và công tác QLTC đƣợc thực hiện nghiêm túc đã đạt đƣợc những kết quả nhất định trong hoạt động SXKD. Tuy nhiên lĩnh vực tài chính đặc biệt công tác QLTC còn có những khó khăn về điều hành, biến động tài sản, nguồn vốn tác động dẫn đến hiệu quả của công tác QLTC chƣa cao. Đây một trong những yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến hiệu quả SXKD và là một yếu tố quan trọng khi thực hiện chiến lƣợc phát triển và mở rộng quy mô của Công ty. Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, học viên đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên đóng tàu Hồng Hà” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng công tác QLTC tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà giai đoạn 2018-2022, luận văn chỉ ra những thành công, hạn chế; từ đó đƣa ra các biện pháp mang tính khoa học, tính khả 2 thi nhằm hoàn thiện công tác QLTC tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về TCDN, QLTC DN; những nội dung cơ bản của QLTC DN. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác QLTC tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà từ đó chỉ ra kết quả đạt đƣợc và hạn chế còn tồn tại.
Đề xuất biện pháp hoàn thiện công tác QLTC tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3. Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác QLTC tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về không gian: Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà.
- Phạm vi về thời gian: Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng công tác QLTC tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà trong giai đoạn 2018- 2022 và đề xuất biện pháp hoàn thiện công tác QLTC tại Công ty trong thời gian tới năm 2030. - Phạm vi về nội dung: Tập trung nghiên cứu về các nội dung tổ chức bộ máy QLTC; công tác lập kế hoạch tài chính; công tác quản lý, sử dụng tài sản, nguồn vốn; tổ chức kiểm tra tài chính; lập các quyết định đầu tƣ tài chính của Công ty. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp thu thập số liệu: thu thập số liệu qua các báo cáo và tài liệu của Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà cũng nhƣ các tài liệu trên website, giáo trình, luận văn, luận án. - Phƣơng pháp xử lý số liệu: Thống kê, mô tả, so sánh, phân tích, tổng hợp các biến động qua từng năm, qua đó có thể thấy đƣợc thực trạng công tác 3 QLTC của Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà.
Kết cấu của luận văn Luận văn gồm 3 chƣơng chính sau: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về quản lý tài chính doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà Chƣơng 3: Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà 4 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, chức năng của tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp “Tài chính DN là một khâu trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trƣờng, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa-tiền tệ, tính chất và mức độ phát triển của TCDN cũng phụ thuộc vào tính chất và nhịp độ phát triển của nền kinh tế hàng hóa” [3]. TCDN là một thuật ngữ chung dùng để chỉ các hoạt động liên quan đến hệ thống QLTC DN có thể là từ việc huy động vốn đến việc sử dụng nguồn vốn huy động đó vào việc SXKD của DN.
Hình thái tiền tệ có thể thay đổi, tồn tại dƣới hình thái vật chất, thời gian và giá trị. Do đó, trong DN nguồn tài chính đƣợc coi là rất quan trọng, mọi hoạt động TCDN theo quy trình nhƣ sau: tạo lập, phân phối, chuyển hóa hình thái và sử dụng quỹ tiền tệ phát sinh. TCDN bao gồm có các nội dung chủ yếu nhƣ sau: - Xác định nhu cầu và quyết định lựa chọn phƣơng án để đầu tƣ, DN tiến hành hoạch định tài chính, tổ chức thực hiện và đánh giá công tác tài chính có mang lại hiệu quả không. - Gia tăng VCSH bằng hoạt động huy động vốn có thể từ nguồn vốn vay nhƣ tổ chức tài chính tín dụng hoặc vốn chủ bằng việc phát hành trái phiếu,… - Xác định nguồn vốn của DN từ đó có kế hoạch sử dụng, phát triển vốn đồng thời QLTC về tài sản, nguồn hình thành tài sản của DN hiệu quả.
Đặc biệt những chi phí tài chính của DN phải chi tiết kiệm, có mục đích rõ ràng và chắc chắn đem lại lợi ích kinh tế trong tƣơng lai cho đơn vị. - Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ DN, đồng thời kiểm soát hoạt động tài chính của DN. Quá trình hoạt động SXKD 5 từ khâu thu mua, đầu tƣ, phục vụ quá trình sản xuất đến khâu tiêu thụ để thu hồi vốn, đồng thời xác định đƣợc lợi nhuận để DN đƣa ra quyết định đầu tƣ cho giai đoạn tiếp theo. - Chấp hành nghiêm chỉnh từ kế hoạch, nội dung đến thực hiện cho đến khi DN ra quyết định tài chính, trƣờng hợp có sự thay đổi phải trình bày trong thuyết minh và chỉ rõ nguyên nhân, ảnh hƣởng của sự thay đổi này tới tình hình tài chính của DN.
Từ khái niệm và nội dung của TCDN nêu trên cho thấy bản chất cũng nhƣ tài chính có quan hệ mật thiết với các đối tƣợng khác nhau trong DN: - Mối quan hệ tài chính giữa DN với NSNN: DN có sử dụng vốn và kinh phí từ NSNN, lập dự toán ngân sách, chấp hành và quyết toán ngân sách. Từ đó NN tiến hành phân bổ ngân sách phụ thuộc quy mô, điều kiện và năng lực cho các đơn vị. DN nộp thuế vào NSNN và các khoản phí, lệ phí khác. - Mối quan hệ tài chính giữa DN với các thị trƣờng khác: DN hoạt động SXKD có mối quan hệ với các thị trƣờng khác nhau nhƣ quá trình mua sắm thì DN tiếp cận với thị trƣờng hàng hóa, cung cấp yếu tố đầu vào, quá trình sản xuất, bên cạnh đó DN tiếp cận với thị trƣờng lao động và quá trình tiêu thụ chắc chắn phải tiếp cận thị trƣờng bán hàng, quảng bá sản phẩm, xúc tiến thƣơng mại nhằm đƣa sản phẩm của DN tới ngƣời tiêu dùng, từ nhà cung cấp tới khách hàng có nhu cầu.
“Thông qua các thị trƣờng, DN xác định nhu cầu sản phẩm và dịch vụ mà DN cung ứng, để làm cơ sở hoạch định đầu tƣ, kế hoạch sản xuất, tiếp thị,… Mỗi đơn vị có nhu cầu hoạt động khác nhau nên căn cứ vào ngành nghề kinh doanh để xác định thị trƣờng hoạt động” [4]. - Mối quan hệ tài chính giữa các DN việc tài trợ các nhu cầu vốn của DN: Đơn vị, tổ chức trung gian là tổ chức tài chính tín dụng, thông qua đơn vị thứ ba này thì DN có thể có đƣợc nguồn tài chính hoạt động, đây là kênh tài chính đƣợc nhiều đối tƣợng sử dụng trong quá trình hoạt động SXKD. 6 - “Mối quan hệ tài chính trong nội bộ DN: là các mối quan hệ giữa các bộ phận SXKD, giữa các bộ phận quản lý, giữa các thành viên trong DN, giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn” [4]. Chức năng của tài chính doanh nghiệp - Tổ chức huy động chu chuyển vốn, đảm bảo cho SXKD đƣợc tiến hành liên tục.
DN cần phải xác định nhu cầu cụ thể từ đó có kế hoạch thực hiện để tiến hành sản xuất, xây dựng định mức tiêu chuẩn đối với sản phẩm, dịch vụ. Tuy nhiên để có thể lựa chọn đƣợc yếu tố đầu vào thì DN phải nắm bắt đƣợc tình hình tài chính của mình để cân đối thu-chi hợp lý. Để phản ánh sức khỏe của DN thì phụ thuộc rất lớn vào tình hình tài chính nhƣ tài sản, nguồn hình thành tài sản của DN. - Chức năng phân phối thu nhập của TCDN, trong quá trình SXKD DN đã bỏ ra chi phí để đầu tƣ vào sản xuất nhƣ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Giai đoạn tiêu thụ sản phẩm phát sinh chi phí bán hàng, bên cạnh đó còn có chi phí quản lý DN. Phần chênh lệch thu và chi chính là lợi nhuận của DN. “Lợi nhuận trƣớc thuế đƣợc phân phối tiếp nhƣ nộp thuế thu nhập DN theo luật định, bù lỗ năm trƣớc không đƣợc trừ vào lợi nhuận trƣớc thuế (nếu có), trừ các khoản chi phí không hợp lý, hợp lệ, chia lãi cho các đối tác góp vốn và phân phối lợi nhuận sau thuế vào các quỹ của DN” [12]. Việc trang trải vốn để hoạt động SXKD nhƣ mua sắm, đầu tƣ, sản xuất và tiêu thụ để thu hồi vốn cho thấy vòng tuần hoàn của TCDN.
- “Chức năng giám đốc đối với hoạt động SXKD là cơ sở của giám đốc tài chính: Xuất phát từ tính quy luật phân phối sản phẩm quyết định, xuất phát từ tính mục đích của việc sử dụng vốn trong SXKD.