Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nhân tố tổng hợp đại diện quản trị công ty tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Ngô Nhật Phương Diễm, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Đình Trực và TS. Trần Văn Thảo, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2019 (chuyên ngành Kế toán, mã số: 93.301).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) là tập hợp các quyết định của nhà quản lý nhằm trình bày lợi nhuận sai lệch so với thực tế thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán, các khoản dồn tích hoặc can thiệp vào các giao dịch kinh tế, gây tổn thất trực tiếp đến giá trị vốn đầu tư của cổ đông (Ronen & Yaari, 2008). Các vụ gian lận báo cáo tài chính lớn trên thế giới như Enron (gây thiệt hại 70 tỷ USD, cổ phiếu giảm từ 90 USD xuống dưới 1 USD, hơn 80.000 nhân viên mất việc), WorldCom (thiệt hại 180 tỷ USD cho cổ đông) hay tại Việt Nam như Công ty Cổ phần Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (lợi nhuận sau kiểm toán năm 2017 giảm 91% so với báo cáo tự lập), Hoàng Anh Gia Lai (giảm 661 tỷ đồng), Thủy sản Hùng Vương (mức lỗ tăng thêm 642 tỷ đồng), XNK Thủy sản An Giang (từ lãi 4 tỷ thành lỗ 187 tỷ đồng) đã cho thấy tính nghiêm trọng của hành vi này.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu của luận án được xác định dựa trên ba khía cạnh:

  • Thứ nhất, phần lớn các công trình trên thế giới và tại Việt Nam chỉ kiểm tra tác động của từng đặc điểm riêng lẻ của quản trị công ty (QTCT) như quy mô, tính độc lập, số lần họp, trình độ chuyên môn đến QTLN và mang lại các kết quả mâu thuẫn, không đồng nhất. Dưới góc nhìn của lý thuyết tới hạn (Critical Mass Theory - Granovetter, 1978; Kramer và cộng sự, 2006), các đặc điểm riêng lẻ khi đứng độc lập chưa đạt ngưỡng để tạo ra tác động, nhưng khi kết hợp thành một "nhân tố tổng hợp" thì có thể tạo ra tác động giám sát rõ nét.
  • Thứ tư, ngành sản xuất đóng vai trò trọng yếu trong nền kinh tế (quý 1/2018 khu vực công nghiệp sản xuất tăng trưởng 9,7%, đóng góp 3,39 điểm phần trăm vào GDP cả nước), song lại là nhóm ngành được ghi nhận có chất lượng báo cáo tài chính thấp nhất và xảy ra nhiều sai lệch công bố thông tin (Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016).
  • Thứ ba, trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình nào tại Việt Nam nghiên cứu tác động của nhân tố tổng hợp đại diện QTCT (gồm Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát) đến hành vi QTLN chuyên biệt trên mẫu các công ty sản xuất niêm yết.

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Luận án xác lập hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu 1: Khám phá nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN tại các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam.
  • Mục tiêu nghiên cứu 2: Đo lường mức độ tác động của nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN tại các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam.

Tương ứng với hai mục tiêu trên, luận án đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN tại công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam là gì?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Mức độ tác động của nhân tố tổng hợp đại diện QTCT ảnh hưởng đến hành vi QTLN tại các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hành vi quản trị lợi nhuận và các nhân tố tổng hợp đại diện quản trị công ty tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận.
  • Phạm vi không gian: Các công ty sản xuất niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016. Điểm bắt đầu (2012) gắn liền với thời điểm Bộ Tài chính ban hành Thông tư 121/2012/TT-BTC quy định về QTCT áp dụng cho các công ty niêm yết; điểm kết thúc (2016) là năm tài chính hoàn tất việc thu thập toàn bộ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và báo cáo quản trị tại thời điểm thực hiện đề tài.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận

Luận án hệ thống hóa hai phương thức đo lường hành vi QTLN chính trong y văn học thuật:

                     (Dechow et al. 1998; Healy & Wahlen 1999; Roychowdhury 2006; Zang 2006...)
  • Mô hình đo lường QTLN qua các hoạt động kinh tế (Real Earnings Management - REM): Dựa trên nền tảng của Dechow và cộng sự (1998), Healy và Wahlen (1999), Dechow và Skinner (2000), Roychowdhury (2006) đã phát triển mô hình nhận diện mức độ bất thường của ba thành phần: dòng tiền hoạt động kinh doanh ($CFO$), chi phí sản xuất ($PROD = GVHB + \Delta HTK$), và chi phí hữu ích ($DISEXP = R&D + CPBH + QLDN$).
  • Mô hình đo lường QTLN theo cơ sở dồn tích (Accruals-Based Models - AEM): Khởi đầu từ Healy (1985) và DeAngelo (1986) với giả định dồn tích không điều chỉnh ($NDA$) là hằng số. Jones (1991) đã khắc phục điểm yếu này bằng việc đưa thêm biến biến thiên doanh thu ($\Delta REV$) và tài sản cố định hữu hình ($PPE$) để kiểm soát thay đổi trong hoạt động kinh doanh. Sau đó, Dechow, Sloan và Sweeney (1995) hiệu chỉnh bằng cách loại trừ biến thiên khoản phải thu ($\Delta REV - \Delta AR$); Kothari và cộng sự (2005) bổ sung thêm hiệu quả hoạt động ($ROA_{t-1}$); Jeter và Shivakumar (1999) sử dụng dòng tiền theo quý; Yoon và cộng sự (2006) xây dựng mô hình phù hợp cho thị trường châu Á.

Các hướng nghiên cứu về mối quan hệ giữa QTCT và QTLN

  • Nghiên cứu đặc điểm riêng lẻ của QTCT: Nhiều công trình kiểm định vai trò của quy mô HĐQT, tính độc lập, trình độ chuyên môn, sự kiêm nhiệm, số lần họp (Chtourou và cộng sự, 2001; Klein, 2002; Xie và cộng sự, 2003; Abbott và cộng sự, 2004; Ebrahim, 2007; Osma, 2008; Murhadi, 2010; Lin, 2011; Swastika, 2013; Soliman & Ragab, 2013; Susanto & Pradipta, 2016). Tuy nhiên, kết quả rất trái chiều: một số nghiên cứu cho thấy thành viên độc lập làm giảm QTLN (Xie và cộng sự, 2003; Niu, 2006; Osma, 2008), trong khi các nghiên cứu khác chỉ ra tính độc lập không có ý nghĩa thống kê (Klein, 2002; Lin, 2011; Swastika, 2013). Về quy mô HĐQT, có nghiên cứu kết luận giúp hạn chế QTLN (Chtourou và cộng sự, 2001; Xie và cộng sự, 2003), có nghiên cứu nhận thấy làm tăng QTLN (Seng & Findlay, 2013; Swastika, 2013), và có tác giả kết luận không có tác động (Nugroho & Eko, 2011; Moradi và cộng sự, 2012).
  • Nghiên cứu nhân tố tổng hợp QTCT: Để giải quyết sự thiếu nhất quán, các tác giả quốc tế chuyển sang tiếp cận chỉ số tổng hợp: Carcello và cộng sự (2006) lập chỉ số QTCT mạnh gồm 6 đặc tính (HĐQT, BKS, quyền cổ đông, sở hữu tổ chức); Kang và Kim (2012) xây dựng chỉ số tổng hợp HĐQT gồm 5 đặc điểm tại các công ty sản xuất Hàn Quốc; Hassan và Ahmed (2012) thiết lập chỉ số tổng hợp BKS gồm 3 đặc điểm tại Nigeria; Bajra và Cadez (2017) đo lường chất lượng HĐQT và kiểm toán nội bộ qua thang đo 0–5.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Các nghiên cứu chủ yếu xem xét đặc điểm riêng lẻ (Nguyễn Trí Tri, 2013; Nguyễn Trọng Nguyên, 2015; Nguyễn Mạnh Hà, 2016; Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016; Essa và cộng sự, 2016; Bùi Văn Dương & Ngô Hoàng Điệp, 2017; Nguyễn Hà Linh, 2017; Phạm Thị Kiều Trang, 2017). Về nhân tố tổng hợp, duy nhất công trình của Hoang và cộng sự (2016) nghiên cứu nhân tố tổng hợp đại diện cho sự đa dạng HĐQT (về chức năng và cơ cấu) tác động đến chất lượng lợi nhuận.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết

  1. Khắc phục hạn chế của việc phân tích các biến riêng lẻ bằng việc xây dựng hai nhân tố tổng hợp đại diện QTCT: Nhân tố tổng hợp HĐQT (tích hợp 5 đặc tính: quy mô, tính độc lập, chuyên môn tài chính, sự kiêm nhiệm, số lần họp) và Nhân tố tổng hợp BKS (tích hợp 4 đặc tính: quy mô, tính độc lập, chuyên môn tài chính, số lần họp).
  2. Kiểm định toàn diện tác động đồng thời lên cả hai phương thức QTLN: dồn tích điều chỉnh ($DA$ theo Jones, 1991) và qua các hoạt động kinh tế thực ($REM$ theo Roychowdhury, 2006).
  3. Tập trung chuyên sâu vào mẫu các công ty sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Các lý thuyết nền tảng

Luận án vận dụng hệ thống 5 lý thuyết cốt lõi để giải thích cơ chế tác động của QTCT đến hành vi QTLN:

Lý thuyết Nội dung và cơ chế giải thích trong luận án
Lý thuyết đại diện (Agency Theory) Giải thích mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông (bên ủy nhiệm) và nhà quản lý (bên nhận ủy nhiệm) do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành. Nhà quản lý có động cơ QTLN để tối đa hóa lợi ích cá nhân. HĐQT và BKS đóng vai trò là cơ chế giám sát nhằm giảm thiểu chi phí đại diện.
Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) Bắt nguồn từ tình trạng thông tin bất cân xứng giữa ban điều hành và các nhà đầu tư bên ngoài. QTCT mạnh phát tín hiệu về tính trung thực, minh bạch của báo cáo tài chính.
Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependency Theory) HĐQT và BKS đa dạng về cơ cấu, chuyên môn, quy mô và mạng lưới quan hệ sẽ cung cấp các nguồn lực quan trọng, nâng cao năng lực giám sát và tư vấn cho doanh nghiệp.
Lý thuyết các bên có liên quan (Stakeholder Theory) Doanh nghiệp chịu sự giám sát và có trách nhiệm giải trình thông tin tài chính minh bạch đối với nhiều bên: cổ đông, ngân hàng, nhà cung cấp, cơ quan quản lý và người lao động.
Lý thuyết hành vi (Behavioral Theory) Giải thích hành vi thiên lệch của nhà quản lý trong việc lựa chọn chính sách kế toán nhằm công bố thông tin có lợi và che giấu thông tin bất lợi.
Lý thuyết tới hạn (Critical Mass Theory) Giải thích vì sao từng đặc điểm riêng lẻ của HĐQT/BKS có thể không đủ mạnh để tác động đến QTLN, nhưng khi tập hợp thành một thể thống nhất (nhân tố tổng hợp), sức mạnh giám sát sẽ vượt qua ngưỡng tới hạn để hạn chế QTLN.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp theo tuần tự khám phá (exploratory sequential mixed method):

[Nghiên cứu định tính]
- Phỏng vấn sâu 3 nhóm chuyên gia (>10 năm kinh nghiệm)
- Xác định 2 nhân tố tổng hợp: HĐQT (5 đặc điểm) & BKS (4 đặc điểm)
[Nghiên cứu định lượng]
- Thu thập dữ liệu: 290 quan sát - năm (CTSXNY, 2012-2016)
- Tính toán biến phụ thuộc: DA (Jones 1991), REM (Roychowdhury 2006)
- Lựa chọn mô hình hồi quy: Pooled OLS, FEM, REM
- Kiểm định khuyết tật: Đa cộng tuyến (VIF), Tự tương quan (Wooldridge), Phương sai thay đổi
- Hồi quy mô hình chuẩn xác & biện luận kết quả
  • Giai đoạn 1 - Nghiên cứu định tính: Tiến hành phỏng vấn sâu 3 nhóm chuyên gia am hiểu về QTLN (giảng viên các trường đại học tại TP.HCM, kế toán trưởng và các nhà quản lý có trên 10 năm kinh nghiệm). Kết quả định tính đã khám phá và thống nhất hai nhân tố tổng hợp đại diện QTCT gồm:
    • Nhân tố tổng hợp HĐQT: Tập hợp 5 thành phần (Quy mô, Tỷ lệ thành viên độc lập, Trình độ chuyên môn, Số lần họp, Sự không kiêm nhiệm chức danh Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành).
    • Nhân tố tổng hợp BKS: Tập hợp 4 thành phần (Quy mô, Tỷ lệ thành viên độc lập, Trình độ chuyên môn, Số lần họp).
  • Giai đoạn 2 - Nghiên cứu định lượng:
    • Mẫu dữ liệu: 290 quan sát - năm của các công ty sản xuất niêm yết trên HOSE và HNX trong giai đoạn 2012–2016.
    • Nguồn dữ liệu: Báo cáo tài chính kiểm toán, Báo cáo thường niên, Báo cáo quản trị công bố công khai.
    • Kỹ thuật phân tích: Thống kê mô tả, ma trận tương quan Pearson/Spearman, kiểm định lựa chọn mô hình dữ liệu bảng qua các kiểm định F-test, Breusch-Pagan Lagrange Multiplier (LM test) và kiểm định Hausman để lựa chọn giữa Pooled OLS, Fixed Effects Model (FEM) và Random Effects Model (REM). Đồng thời thực hiện kiểm định đa cộng tuyến (VIF), tự tương quan (Wooldridge test), phương sai sai số thay đổi và sử dụng ước lượng hiệu chỉnh sai số chuẩn (Pooled OLS-Robust / FEM) để xử lý các khuyết tật mô hình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương này tổng thuật chi tiết các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về các mô hình đo lường hành vi QTLN (Healy, 1985; DeAngelo, 1986; Jones, 1991; Dechow và cộng sự, 1995; Kothari và cộng sự, 2005; Roychowdhury, 2006) và các nhóm nhân tố tác động đến QTLN (đặc điểm QTCT, đặc điểm doanh nghiệp như cấu trúc vốn, quy mô, và hiệu quả hoạt động như dòng tiền $CFO$, $ROA$, $EPS$, vốn hóa, kiểm toán Big4). Tác giả chỉ ra khe hổng học thuật tại Việt Nam: các nghiên cứu trước đây chưa đồng thuận khi chạy hồi quy đơn biến và đa biến với từng đặc điểm riêng lẻ của QTCT; thiếu vắng nghiên cứu dùng nhân tố tổng hợp QTCT; và chưa có nghiên cứu chuyên sâu cho nhóm công ty sản xuất niêm yết.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 2 trình bày có hệ thống các khái niệm về quản trị công ty, mô hình QTCT tại Việt Nam theo Thông tư 121/2012/TT-BTC (gồm Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, BKS và Ban điều hành), các khái niệm và phân loại hành vi QTLN (AEM và REM). Chương này phân tích sâu 5 lý thuyết nền tảng (Lý thuyết đại diện, Lý thuyết tín hiệu, Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, Lý thuyết các bên có liên quan, Lý thuyết hành vi) kết hợp với Lý thuyết tới hạn để giải thích cơ chế kiểm soát của HĐQT và BKS đối với hành vi cơ hội của nhà quản lý. Tác giả cũng phân tích chi tiết các nhân tố nội tại (lương thưởng, nhu cầu huy động vốn, loại hình sở hữu, đặc điểm HĐQT, BKS) và nhân tố bên ngoài (môi trường pháp lý, chất lượng kiểm toán độc lập).

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 thiết lập quy trình nghiên cứu hỗn hợp gồm hai pha:

  • Quy trình nghiên cứu định tính: Thiết kế mẫu phỏng vấn sâu chuyên gia có trên 10 năm kinh nghiệm, thu thập và phân tích nội dung phỏng vấn để xây dựng cấu trúc hai nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS.
  • Quy trình nghiên cứu định lượng: Xây dựng hai phương trình hồi quy đa biến cho hai biến phụ thuộc $DA$ (đo lường theo mô hình Jones 1991) và $REM$ (đo lường theo mô hình Roychowdhury 2006). Xây dựng thang đo cho các biến độc lập (nhân tố tổng hợp HĐQT, nhân tố tổng hợp BKS) và các biến kiểm soát (Quy mô công ty, Đòn bẩy tài chính, Tỷ suất sinh lời $ROA$, Dòng tiền hoạt động kinh doanh $CFO$, Kiểm toán Big4, Vốn hóa thị trường). Thiết kế các kiểm định lựa chọn mô hình (F-test, LM, Hausman) và kiểm định vi phạm giả định hồi quy (VIF, Wooldridge, phương sai thay đổi).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương này công bố chi tiết kết quả xử lý dữ liệu và kiểm định thực nghiệm:

  • Nghiên cứu định tính: Khẳng định hai nhân tố tổng hợp HĐQT (5 thành phần) và BKS (4 thành phần) là đại diện chuẩn xác cho cơ chế QTCT tại Việt Nam.
  • Thống kê mô tả và tương quan: Trình bày các bảng thống kê mô tả biến $DA$, biến $REM$, các biến độc lập và biến kiểm soát qua các năm từ 2012 đến 2016; ma trận tương quan giữa các biến.
  • Kết quả hồi quy Phương trình 1 (Biến phụ thuộc DA): Qua các kiểm định lựa chọn mô hình và kiểm định khuyết tật, mô hình Pooled OLS-Robust được xác định là phù hợp nhất. Kết quả chứng minh nhân tố tổng hợp HĐQT có hệ số âm và có ý nghĩa thống kê, chứng minh HĐQT hiệu quả làm giảm hành vi QTLN qua dồn tích điều chỉnh ($DA$).
  • Kết quả hồi quy Phương trình 2 (Biến phụ thuộc REM): Qua kiểm định F-test và Hausman, mô hình Fixed Effects Model (FEM) được lựa chọn. Kết quả tiếp tục khẳng định nhân tố tổng hợp HĐQT có mối tương quan âm và có ý nghĩa thống kê với $REM$, làm giảm mức độ can thiệp vào các hoạt động kinh tế thực.
  • Bàn luận kết quả: Tác giả phân tích chi tiết tác động của biến HĐQT, biến BKS và các biến kiểm soát trong mối liên hệ với các lý thuyết nền tảng và bối cảnh thực tế của thị trường chứng khoán Việt Nam.
                    MÔ HÌNH HỒI QUY ĐA BIẾN VÀ KẾT QUẢ CHÍNH
                    
[Biến độc lập chính]
[Biến kiểm soát]                                        [Biến phụ thuộc QTLN]
- Quy mô công ty (Size)                                 - Mô hình 1: DA (Jones 1991)
- Hiệu quả hoạt động (ROA, CFO)                         - Mô hình 2: REM (Roychowdhury 2006)
- Kiểm toán Big4, Vốn hóa thị trường                      [Fixed Effects Model - FEM]

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Chương 5 đúc kết toàn bộ kết quả nghiên cứu, nêu bật những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án. Từ các phát hiện thực nghiệm, tác giả đề xuất hệ thống hàm ý chính sách dành cho hai nhóm đối tượng: (1) Các công ty sản xuất niêm yết nhằm kiện toàn cơ cấu QTCT; (2) Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) trong việc ban hành quy chế QTCT và chế tài giám sát. Chương này cũng nêu rõ các hạn chế nghiên cứu và định hướng các đề tài tiếp theo trong tương lai.


Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án bổ sung vào kho tàng tri thức khoa học về mối quan hệ giữa QTCT và QTLN thông qua việc khẳng định: Nhân tố tổng hợp HĐQT đóng vai trò kiểm soát hiệu quả, tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến cả hai phương thức quản trị lợi nhuận (trên cơ sở dồn tích $DA$ và qua các hoạt động kinh tế thực $REM$).
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm củng cố Lý thuyết đại diện, Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực và đặc biệt là Lý thuyết tới hạn (Critical Mass Theory) trong bối cảnh thị trường mới nổi tại Việt Nam: các đặc tính quản trị riêng lẻ chỉ thực sự phát huy tối đa hiệu lực giám sát khi được tích hợp thành một chỉnh thể tổng hợp đồng bộ.
  • Đặt nền tảng lý luận và phương pháp luận cho các nghiên cứu tiếp theo về QTCT tại Việt Nam theo hướng tiếp cận chỉ số tổng hợp thay vì các biến đơn lẻ rời rạc.

Những đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp bức tranh thực trạng về hành vi QTLN tại các công ty sản xuất niêm yết, làm cơ sở khoa học để Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hoàn thiện khung khổ pháp lý, quy chế quản trị công ty và các chế tài xử phạt vi phạm công bố thông tin.
  • Đối với các công ty sản xuất niêm yết: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp các doanh nghiệp nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng HĐQT thực chất (đảm bảo tính độc lập, chuyên môn tài chính kế toán, tần suất họp, quy mô hợp lý và phân tách chức danh Chủ tịch HĐQT với Giám đốc điều hành) nhằm nâng cao tính minh bạch và chất lượng báo cáo tài chính.
  • Đối với công ty kiểm toán và kiểm toán viên độc lập: Cung cấp công cụ hữu ích để nhận định sơ bộ về nguy cơ QTLN thông qua đánh giá chỉ số tổng hợp HĐQT và BKS, hỗ trợ quá trình đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu khi lập kế hoạch kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 (VSA 315).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

Dựa trên phạm vi và dữ kiện được công bố trong văn bản, luận án tồn tại một số hạn chế:

  1. Mẫu nghiên cứu chỉ giới hạn ở 290 quan sát - năm của các công ty sản xuất niêm yết trên sàn HOSE và HNX, chưa mở rộng sang toàn bộ các nhóm ngành phi tài chính khác trong nền kinh tế.
  2. Khung thời gian dữ liệu dừng lại ở giai đoạn 2012–2016, phản ánh bối cảnh thực thi quy chế QTCT theo Thông tư 121/2012/TT-BTC, chưa cập nhật các quy định mới hơn sau giai đoạn này.
  3. Nhân tố tổng hợp chỉ mới tập trung vào hai thiết chế quản trị nội bộ là HĐQT và BKS theo quy chế QTCT giai đoạn nghiên cứu, chưa tích hợp các yếu tố sở hữu nước ngoài, sở hữu tổ chức hoặc mô hình Ủy ban kiểm toán trực thuộc HĐQT.

Hướng nghiên cứu trong tương lai

  1. Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các nhóm ngành kinh tế khác (thương mại, dịch vụ, xây dựng, bất động sản) và cập nhật dữ liệu tài chính các năm tiếp theo.
  2. Kiểm nghiệm các phương pháp gán trọng số khác nhau cho từng thành phần trong nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS để tăng độ nhạy của chỉ số đo lường.
  3. Nghiên cứu sâu hơn về mô hình QTCT mới (mô hình một cấp có Ủy ban kiểm toán theo Luật Doanh nghiệp) tác động đến các dạng hành vi QTLN chuyên biệt.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên ngành Kế toán - Kiểm toán - Tài chính: Tham khảo khung phương pháp luận nghiên cứu hỗn hợp theo tuần tự khám phá; phương pháp đo lường đồng thời $DA$ (theo mô hình Jones 1991) và $REM$ (theo mô hình Roychowdhury 2006); cũng như kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng (Pooled OLS-Robust, FEM, REM).
  • Kiểm toán viên độc lập và các công ty kiểm toán: Vận dụng tiêu chí đánh giá nhân tố tổng hợp HĐQT để nhận diện môi trường kiểm soát và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính theo VSA 315.
  • Nhà quản trị doanh nghiệp niêm yết: Tham khảo cơ cấu chuẩn mực cho HĐQT (quy mô, số lượng thành viên độc lập, năng lực chuyên môn tài chính, số lần họp, không kiêm nhiệm hai chức danh) để hoàn thiện hệ thống quản trị nội bộ.
  • Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán (UBCKNN, Bộ Tài chính): Tham khảo các căn cứ thực nghiệm để ban hành và giám sát việc thực thi các hướng dẫn về quản trị công ty tốt tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả lựa chọn nghiên cứu nhân tố tổng hợp đại diện QTCT thay vì tiếp tục kiểm tra các đặc điểm riêng lẻ?

Theo tổng quan y văn và kết quả kiểm tra sơ bộ của tác giả (phụ lục 0.1, 0.2), khi chạy hồi quy đơn biến và đa biến với từng đặc điểm riêng lẻ của HĐQT và BKS, phần lớn các biến không có mối tương quan có ý nghĩa thống kê hoặc cho kết quả mâu thuẫn giữa các nghiên cứu trước. Dựa trên Lý thuyết tới hạn (Critical Mass Theory), các đặc tính riêng lẻ khi đứng độc lập chưa đạt ngưỡng sức mạnh cần thiết, nhưng khi tập hợp thành một chỉnh thể "nhân tố tổng hợp", chúng đạt giá trị tới hạn để tạo ra tác động kiểm soát rõ rệt lên hành vi QTLN.

2. Nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS trong luận án được cấu thành từ những đặc tính cụ thể nào?

Căn cứ kết quả phỏng vấn sâu chuyên gia và quy chế QTCT theo Thông tư 121/2012/TT-BTC:

  • Nhân tố tổng hợp HĐQT gồm 5 đặc điểm: (1) Quy mô HĐQT; (2) Tỷ lệ thành viên độc lập; (3) Trình độ chuyên môn tài chính kế toán; (4) Số lần họp HĐQT; (5) Sự không kiêm nhiệm hai chức danh Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành (CEO).
  • Nhân tố tổng hợp BKS gồm 4 đặc điểm: (1) Quy mô BKS; (2) Tỷ lệ thành viên độc lập; (3) Trình độ chuyên môn tài chính kế toán; (4) Số lần họp BKS.

3. Luận án sử dụng các mô hình nào để đo lường hành vi quản trị lợi nhuận?

Luận án tiếp cận toàn diện cả hai hình thức QTLN:

  • Đo lường QTLN qua dồn tích điều chỉnh ($DA$): Vận dụng mô hình gốc của Jones (1991).
  • Đo lường QTLN qua các hoạt động kinh tế thực ($REM$): Vận dụng mô hình của Roychowdhury (2006) thông qua đo lường mức độ bất thường của dòng tiền hoạt động ($CFO$), chi phí sản xuất ($PROD$), và chi phí hữu ích ($DISEXP$).

4. Kết quả hồi quy đa biến thực nghiệm cho thấy nhân tố tổng hợp HĐQT tác động như thế nào đến QTLN?

Kết quả hồi quy đa biến (sử dụng Pooled OLS-Robust cho mô hình biến phụ thuộc $DA$ và Fixed Effects Model - FEM cho mô hình biến phụ thuộc $REM$) chứng minh rằng: Nhân tố tổng hợp HĐQT có tác động ngược chiều (dấu âm) và có ý nghĩa thống kê đến cả hai hành vi QTLN ($DA$ và $REM$). Điều này khẳng định HĐQT hoàn thiện về các thành phần giúp giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận và nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính.

5. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ đâu và trong giai đoạn nào?

Nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu bảng gồm 290 quan sát - năm của các công ty sản xuất niêm yết trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX trong giai đoạn 5 năm từ năm 2012 đến năm 2016, thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo thường niên và báo cáo quản trị công bố chính thức.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Nhật Phương Diễm đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu quan trọng về quản trị công ty và quản trị lợi nhuận tại thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua phương pháp tiếp cận nhân tố tổng hợp. Bằng việc kết hợp nghiên cứu định tính phỏng vấn chuyên gia và nghiên cứu định lượng trên mẫu 290 quan sát - năm của các công ty sản xuất niêm yết giai đoạn 2012–2016, luận án chứng minh thực nghiệm rằng nhân tố tổng hợp Hội đồng quản trị tác động ngược chiều có ý nghĩa thống kê đến cả hai hành vi quản trị lợi nhuận qua dồn tích và qua hoạt động kinh tế thực. Công trình không chỉ củng cố nền tảng Lý thuyết đại diện và Lý thuyết tới hạn trong lĩnh vực kế toán - tài chính mà còn cung cấp các hàm ý thiết thực cho việc ban hành chính sách quản trị công ty cũng như hỗ trợ kiểm toán viên độc lập trong đánh giá rủi ro kiểm toán.