Chương 1: Tổng quan nghiên cứu: Lược khảo các nghiên cứu trên thế giới và các nghiên cứu tại Việt Nam có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Từ đó, phân tích các kết quả đạt được và xác định khe hổng của các nghiên cứu trước tạo tiền đề cho việc thực hiện nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận: Trình bày các khái niệm nghiên cứu và các lý thuyết nền nhằm lý giải mối quan hệ giữa các biến trong mô hình. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Nội dung chủ yếu của chương này là trình bày quy trình nghiên cứu, đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận: Phân tích và bàn luận kết quả nghiên cứu định lượng thông qua kết quả xử lý dữ liệu. Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách: Chương này trình bày kết luận và dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin kế toán tạo tiền đề cho việc ra các quyết định kinh tế quan trọng. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Mục tiêu của chương này giúp tác giả lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hành vi QTLN, trong đó bao gồm các nghiên cứu về mô hình đo lường QTLN phổ biến và nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi QTLN. Qua đó, phân tích các kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại ở các nghiên cứu trước làm tiền đề cho việc thực hiện nghiên cứu này.
CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG HÀNH VI QTLN Thống kê các nghiên cứu trước đây cho thấy có khá nhiều mô hình để nhận diện hành vi QTLN, có thể kể đến như mô hình Healy (1985), DeAngelo (1986), Jones (1991), Friedlan (1994), Jones hiệu chỉnh (1995), Key (1997), Jeter & Shivakumar (1999), Kothari (2005), … trong đó có 3 mô hình được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới kế thừa phổ biến, đó là mô hình của Jones (1991), mô hình Jones hiệu chỉnh của Dechow và cộng sự (1995) và mô hình của Kothari (2005). Đa số các nghiên cứu sử dụng khoản dồn tích có thể điều chỉnh được để đo lường QTLN, bởi lẽ NDA được cho là biến dồn tích không thể điều chỉnh được vì phụ thuộc vào tình hình kinh doanh và điều kiện của đơn vị hơn là hành động của nhà quản lý trong khi DA là biến dồn tích có thể điều chỉnh được và dễ bị tác động bởi ý muốn chủ quan của nhà quản lý, là thang đo đại diện cho hành vi QTLN của nhà quản lý (Ngô Nhật Phương Diễm, 2019). Mô hình Jones (1991) Mô hình của Jones (1991) xác định biến dồn tích có thể điều chỉnh được là một hàm số thay đổi theo doanh thu và TSCĐ hữu hình. Jones (1991) cho rằng khi doanh thu thay đổi sẽ làm cho vốn kinh doanh và các khoản dồn tích thay đổi, đồng thời khấu hao TSCĐ làm giảm giá trị dồn tích.
Vì vậy, Jones đã sử dụng hai biến độc lập là sự thay đổi của doanh thu và TSCĐ để dự đoán DA. Trong đó, biến tổng dồn tích được xác lập bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế trừ đi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, từ đó có thể suy ra biến dồn tích có thể điều chỉnh được là phần còn lại của tổng dồn tích sau khi trừ đi biến dồn tích không thể điều chỉnh. Trình tự ước tính các biến trong mô hình được thiết lập thông qua các bước sau: 8 Bước 1: Xác định biến tổng dồn tích (Total Accruals (TA)) Biến tổng dồn tích được xác định thông qua phương trình sau: 𝑇𝐴𝑖𝑡 1 ∆𝑅𝐸𝑉𝑖𝑡 𝑃𝑃𝐸𝑖𝑡 = 𝛼𝑖 [ ] + 𝛽1𝑖 [ ] + 𝛽2𝑖[ ] + 𝜀 it (1) 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 Trong đó: TAit: tổng dồn tích năm t của DN i; ΔREVit: chênh lệch doanh thu DN i năm t và năm t-1; PPEit: nguyên giá TSCĐ hữu hình DN i trong năm t; Ait-1: tổng tài sản DN i năm t-1; 𝜀 it: sai số ngẫu nhiên năm t đại diện cho biến chưa thể nhận diện được I = 1,…,N (Tổng DN thực hiện khảo sát); T = 1,…,T (Chuỗi thời gian thực hiện khảo sát) α1, β1, β2: là những tham số được ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất Trong phương trình (1), hai vế của phương trình chia cho tổng tài sản cuối năm trước (Ait-1), mục đích của động tác này là để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi khi chạy mô hình hồi quy. Bước 2: xác định biến dồn tích không thể điều chỉnh được (NDA) Giống như biến tổng dồn tích, phương trình được thiết lập tương tự cho NDA: 𝑁𝐷𝐴𝑖𝑡 1 ∆𝑅𝐸𝑉𝑖𝑡 𝑃𝑃𝐸𝑖𝑡 = 𝛼𝑖 [ ] + 𝛽1𝑖 [ ] + 𝛽2𝑖[ ] + 𝜀 it (2) 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 Bước 3: xác định biến dồn tích có thể điều chỉnh được (DA) DAit = TAit – NDAit (3) 𝐷𝐴𝑖𝑡 𝑇𝐴𝑡 1 ∆𝑅𝐸𝑉𝑖𝑡 𝑃𝑃𝐸𝑖𝑡 => = − 𝛼𝑖 [ ] + 𝛽1𝑖 [ ] + 𝛽2𝑖[ ] + 𝜀 it (4) 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 Các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được là các khoản dồn tích do các nhà quản lý thực hiện nhằm mục đích QTLN trong kỳ.
Do đó, biến DA là thước đo phù hợp để đánh giá các nhà quản trị DN có thực hiện hành vi điều QTLN không. Về nguyên tắc, DA sẽ có 3 trường hợp xảy ra: - Khi DA > 0: có khả năng nhà quản trị thổi phòng lợi nhuận; - Khi DA < 0: có khả năng nhà quản trị che giấu lợi nhuận; - Khi DA = 0: không xảy ra hành vi QTLN của nhà quản trị. 9 Mô hình hồi quy chỉ có 2 biến là ΔREV và PPE. Jones (1991) cho rằng, giá trị ΔREV thể hiện sự biến động của doanh thu của DN trong kỳ kế toán, nó phản ánh tình hình và môi trường hoạt động kinh doanh của DN.
Còn giá trị PPE thể hiện nguồn lực nội tại của DN trong việc tạo ra doanh thu, đồng thời khoản mục chi phí khấu hao là một khoản chi phí dồn tích có thể điều chỉnh được, là một trong những yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến tổng lợi nhuận trong kỳ. Tuy nhiên, mô hình này còn tồn tại hạn chế ở việc xác định ΔREV trong năm tài chính, vì doanh thu là khoản mục có thể bị tác động bởi các giao dịch phát sinh tại đơn vị. Ví dụ các trường hợp khai khống hay khai thiếu doanh thu đều làm ảnh hưởng đến biến ΔREV trong mô hình. Mặt khác, biến NDA trong mô hình được giả định là yếu tố tĩnh, nghĩa là NDA không thay đổi theo thời gian trong khi hoạt động kinh doanh tại DN lại là yếu tố động, luôn thay đổi liên tục, sự mâu thuẫn này tồn tại là một trong những hạn chế cần được cải thiện và khắc phục.
Mô hình Dechow và cộng sự (1995) Xuất phát từ hạn chế của mô hình Jones (1991), Dechow và cộng sự (1995) đã tiến hành nghiên cứu mô hình mới dựa trên sự kế thừa của mô hình Jones (1991) bằng cách thêm vào biến ΔREC (là sự thay đổi trong tài khoản phải thu khách hàng). 𝑁𝐷𝐴𝑖𝑡 1 ∆𝑅𝐸𝑉𝑖𝑡−𝛥𝑅𝐸𝐶𝑖𝑡 𝑃𝑃𝐸𝑖𝑡 = 𝛼𝑖 [ ] + 𝛽1𝑖 [ ] + 𝛽2𝑖[ ]+𝜀 it 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 Trong đó: ΔREVit: chênh lệch doanh thu DN i năm t và năm t-1; ΔRECit: chênh lệch khoản phải thu khách hàng của DN i năm t và năm t-1; PPEit: nguyên giá TSCĐ hữu hình DN i trong năm t; Ait-1: tổng tài sản DN i năm t-1; 𝜀 it: sai số ngẫu nhiên năm t đại diện cho biến chưa thể nhận diện được I = 1,…,N (Tổng DN thực hiện khảo sát); T = 1,…,T (Chuỗi thời gian thực hiện khảo sát) α1, β1, β2: là những tham số được ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất 10 Như vậy, mô hình Jones hiệu chỉnh (1995) đã sử dụng phần chênh lệch của các khoản doanh thu phát sinh không bằng tiền để đại diện cho biến DA và đây cũng là phần dồn tích nhà quản lý có thể tác động theo ý muốn chủ quan. Mô hình Kothari (2005) Tiếp tục phát triển mô hình của Jones (1991) và Dechow và cộng sự (1995), Kothari và cộng sự (2005) đã bổ sung thêm biến ROA (Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản) vào mô hình gốc của Jones (1991) nhằm xem xét mối quan hệ tuyến tính giữa biến kế toán dồn tích và kết quả hoạt động của DN. Nghiên cứu của Keung & Shih (2014) cho thấy các sai số của mô hình Kothari (2005) có mối tương quan ngược chiều với biến kế toán dồn tích của thể điều chỉnh được.
Rất nhiều tranh luận cho rằng đâu là mô hình tối ưu nhất cho việc nhận diện hành vi QTLN. Nghiên cứu của Olfa và cộng sự (2016) cho rằng mô hình Jones hiệu chỉnh (1995) được cho là tối ưu khi đo lường DA của các DN tại Pháp, nghiên cứu của Nurlan (2018), Naser và cộng sự (2020) cũng đồng tình với quan điểm khi thực hiện nghiên cứu tại Kazakhstan và Palestine, hay gần đây nhất là nghiên cứu của Peter và cộng sự (2022) cũng sử dụng mô hình Jones hiệu chỉnh (1995) khi thực hiện nghiên cứu trong phạm vi cộng đồng các quốc gia Đông Phi. Trong khi đó, Chafeddine và 11 cộng sự (2013) tại Tunisia, Simon và cộng sự (2017) tại Mỹ đều cho rằng việc sử dụng song song hai mô hình Jones hiệu chỉnh (1995, 2005) để đo lường biến phụ thuộc là phù hợp nhất. Do đó, tác giả cho rằng không thể kết luận mô hình nào là tối ưu nhất để phát hiện hành vi QTLN vì cách thức các DN vận hành khi tham gia cộng đồng DN là không giống nhau do có sự khác biệt về hệ thống pháp quy trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo, … 1.
CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI QTLN 1. Các nghiên cứu trên thế giới Bên cạnh các nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi QTLN, thì phần lớn các nghiên cứu nước ngoài khác được công bố tập trung vào việc tìm kiếm các nhân tố, nhóm nhân tố tác động đến hành vi QTLN. Ngoài việc tìm hiểu đặc điểm của từng yếu tố riêng lẻ trong mối tương quan với QTLN, xu hướng hiện nay cho thấy các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai nhóm chính là nhóm các yếu tố thuộc đặc điểm DN và nhóm các yếu tố thuộc đặc điểm QTCT. Các nhóm nhân tố này được lựa chọn để tổng quan vì có sự khác biệt về kết quả nghiên cứu ở các nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ và các nước đang phát triển như Philipin, Palestine, Kazakhstan, Ai Cập, Tunisia.