PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do thực hiện đề tài Nằm trong khu vực nhiệt đới và nhiệt đới gió mùa, có lƣợng mƣa dồi dào, độ ẩm cao. Từ lâu, đó đã đƣợc coi là điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi cho việc phát triển các hoạt động trong lĩnh vực nông – lâm – ngƣ nghiệp. Không chỉ có lợi thế về điều kiện tự nhiên, kỹ thuật canh tác có từ lâu đời, ngày nay, qua sự đầu tƣ, tạo điều kiện thuận lợi của nhà nƣớc thông qua các Luật định và chế độ hỗ trợ, sự phát triển đầu tƣ của bản thân các công ty vào tiến bộ khóa học kỹ thuật, vào nguồn nhân lực, các sản phẩm thuộc lĩnh vực nông – lâm – ngƣ nghiệp không chỉ đáp ứng đƣợc nhu cầu trong nƣớc mà còn đang trong xu hƣớng xuất khẩu ra nƣớc ngoài.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng gia tăng hiện nay thông qua việc tham gia vào WTO, TPP, … Mặc dù có cả nhƣng khó khăn, thách thức, nhƣng đó chính là cơ hội lớn để chúng ta đƣa sản phẩm của mình ra ngoài một cách thuận lợi. Hiện nay, một số sản phẩm của Việt Nam nhƣ gạo, chè, tiêu điều, tôm, cá … và gần đây nhất là một số loại trái cây nhƣ vải, nhãn, …đã và sẽ trở thành những sản phẩm xuất khẩu tạo nên thƣơng hiệu của Việt Nam trên thị trƣờng quốc tế. Và để đáp ứng đƣợc cơ hội tiềm năng này, các công ty cần có đủ năng lực đƣợc đo lƣờng thông qua năng lực hoạt động của Nhà quản lý dƣới sự kiểm soát độc lập của của HĐQT cũng nhƣ Ban kiểm soát. Theo Jensen (1993), HĐQT và BKS chịu trách nhiệm đối với hệ thống kiểm soát nội bộ và việc tổ chức hoạt động của công ty.
Còn theo Vafeas (2000), hội đồng quản trị chịu trách nhiệm giám sát chất lƣợng thông tin đƣợc ghi nhận trên báo cáo tài chính, bởi vì các nhà quản trị này thƣờng có xu hƣớng điều chỉnh lợi nhuận theo động cơ của họ. Tại Việt Nam vấn đề đánh giá tác động của HĐQT và BKS đến chất lƣợng thông tin BCTC chƣa đƣợc quan tâm đúng mức khi không có nhiều nghiên cứu đƣợc thực hiện trong lĩnh vực này, nhất là trong ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp. Chính vì vậy, nhằm mục đích tìm hiểu về thực trạng chất lƣợng thông tin 2 BCTC, hoạt động quản trị, cũng nhƣ mối liên hệ của nó với nhau trong các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp tại Việt Nam, bài luận văn chọn đề tài: “Ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT, BKS đến chất lượng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngư nghiệp ở Việt Nam”. Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu tổng quát: + Nghiên cứu về mức độ ảnh hƣởng của đặc điểm HĐQT, BKS đến chất lƣợng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp ở Việt Nam.
Từ đó đƣa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng BCTC của các công ty này hiện nay - Mục tiêu cụ thể + Xác định các nhân tố thuộc đặc điểm HĐQT, BKS ảnh hƣởng đến chất lƣợng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp ở Việt Nam + Đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng các nhân tố thuộc đặc điểm HĐQT và BKS tới chất lƣợng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp ở Việt Nam + Đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng BCTC cũng nhƣ hoạt động của HĐQT và BKS tại các công ty này 3. Câu hỏi nghiên cứu Q1: Các nhân tố nào thuộc đặc điểm HĐQT và BKS có ảnh hƣởng tới chất lƣợng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp ở Việt Nam? Q2: Các nhân tố đó có ảnh hƣởng nhƣ thế nào tới chất lƣợng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp ở Việt Nam? 3 Q3: Các giải pháp nào nhằm nâng cao chất lƣợng thông tin BCTC trong các công ty ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp ở Việt Nam 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Ảnh hƣởng của đặc điểm HĐQT, BKS đến chất lƣợng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp ở Việt Nam - Phạm vi nghiên cứu + Về không gian: Phân tích các nhân tố liên quan tới đặc điểm HĐQT, BKS tới chất lƣợng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp trên cả 2 sàn giao dịch HOSE và HNX. + Về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn 4 năm 2012 – 2015.
- Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 10 năm 2016 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài là phƣơng pháp hỗn hợp, bao gồm phƣơng pháp định tính và định lƣợng - Phƣơng pháp định tính: + Khảo sát sơ bộ, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để nhận diện ảnh hƣởng của các đặc điểm HĐQT, BKS đến chất lƣợng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp ở Việt Nam. Từ đó xây dựng bảng câu hỏi khảo sát để phóng vấn chuyên gia. Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp - Nghiên cứu định lƣợng + Khảo sát thông qua BCTC, BCTC quý 4 và BCTN các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp ở Việt Nam thông qua bảng câu hỏi đƣợc thiết kế dựa trên thang đo Likert 5 mức độ nhằm đánh giá chất lƣợng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp ở Việt Nam 4 + Khảo sát thông tin trên BCTC nhằm đánh giá ảnh hƣởng của đặc điểm HĐQT, BKS đến chất lƣợng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp ở Việt Nam.
+ Đánh giá giá trị và độ tin cậy bằng việc ứng dụng hệ số Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) + Đánh giá và kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy bằng phần mềm SPSS 6. Ý nghĩa nghiên cứu - Về mặt khoa học + Vận dụng đƣợc cơ sở lý thuyết về ảnh hƣởng của đặc điểm HĐQT, BKS tới chất lƣợng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp và kết quả khảo sát để phát triển mô hình, nâng cao chất lƣợng thông tin BCTC. + Vận dụng đƣợc phƣơng pháp kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính bội để đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của đặc điểm HĐQT, BKS tới chất lƣợng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp ở Việt Nam. - Về mặt thực tiễn + Bài luận đã xác định đƣợc mức độ ảnh hƣởng của đặc điểm HĐQT, BKS đến chất lƣợng thông tin BCTC các công ty niêm yết ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp ở Việt Nam.
Từ đó giúp các công ty này có những biện pháp phù hợp để nâng cao chất lƣợng thông tin BCTC. Kết cấu đề tài Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu trƣớc Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 1.1 Các nghiên cứu nƣớc ngoài Vafeas (2000): “Board structure and the informativeness of earnings”: Cấu trúc hội đồng quản trị và khả năng cung cấp thông tin về thu nhập. Đƣợc thực hiện tại Mỹ tìm hiểu về vai trò của hội đồng quản trị đối với việc quản lý chất lƣợng thông tin kế toán đƣợc trình bày trên báo cáo tài chính. Nghiên cứu thu thập dữ liệu từ 350 doanh nghiệp trong năm 1990, 1992, 1994, sau phân tích và xử lý dữ liệu mô hình hồi quy, kết quả chỉ ra rằng đối với những công ty có số lƣợng thành viên hội đồng quản trị càng ít thì báo cáo tài chính cung cấp thông tin về thu nhập của doanh nghiệp đó càng hiệu quả.
“Audit committee effectiveness and financial reporting quality: Implications for auditor independence”: Sự hữu hiệu của ủy ban kiểm toán (Audit Committee - Bộ phận có chức năng tƣơng tự ban kiểm soát ở Việt Nam) tới chất lƣợng báo cáo tài chính tìm hiểu trên quan điểm của kiểm toán viên, có 42 kiểm toán viên giàu kinh nghiệm, gồm 21 chủ phần hùn (partner) và 21 trƣởng phòng (manager) từ 5 công ty kiểm toán lớn nhất lúc bấy giờ tại Mỹ tham gia khảo sát trong nghiên cứu này. 67% chuyên gia này cho rằng đảm bảo báo cáo tài chính và các chính sách kế toán đạt chất lƣợng cao là nhiệm vụ quan trọng nhất của ủy ban kiểm toán. Từ đó cho thấy ban kiểm soát có ảnh hƣởng vô cùng lớn tới chất lƣợng thông tin BCTC. Beekes, Pope, and Young (2004): “The link between earnings timeliness, earnings conservatism and board composition: evidence from the UK”: Mối quan hệ giữa tính kịp thời, kế toán theo nguyên tắc thận trọng của thu nhập và thành phần hội đồng quản trị: minh chứng tại Anh, nghiên cứu dựa vào mô hình mối quan hệ giữa thu nhập và lợi nhuận, bổ sung thêm các biến độc lập liên quan đến hội đồng quản trị, thu thập dữ liệu từ 508 doanh nghiệp trong giai đoạn 3 năm từ năm 1993 đến năm 1995.
Từ đó đƣa ra kết quả là những công ty có tỷ lệ các thành viên hội đồng quản trị không có mối 6 quan hệ lợi ích trực tiếp với công ty càng cao thì khả năng phát hiện ra các thông tin xấu trên thị trƣờng càng kịp thời. Điều đó có nghĩa là tỷ lệ cổ phiếu của thành viên hội đồng quản trị càng cao thì thông tin trên báo cáo tài chính càng đƣợc thông báo kịp thời. (2007):“Ownership, two-tier board structure, and the informativeness of earnings - evidence from China”: Quyền sỡ hữu, cấu trúc hội đồng quản trị hai tầng và khả năng cung cấp thông tin về thu nhập – minh chứng tại Trung Quốc. Trong nghiên cứu này, tác giả thực hiện việc kiểm tra thực nghiệm tác động của chủ sở hữu, cấu trúc quản trị hai tầng tác động đến khả năng cung cấp thông tin về thu nhập đối với các doanh nghiệp niêm yết tại Trung Quốc.
Khả năng cung cấp thông tin đƣợc đo lƣờng thông qua mối quan hệ giữa thu nhập và lợi nhuận, các khoản trích trƣớc và ý kiến của kiểm toán viên. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng các công ty có sự tách biệt vai trò của chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành có khả năng cung cấp thông tin báo cáo tài chính tốt hơn.