chương 1 Trong chương này, luận văn đã lược khảo các nghiên cứu trong nước và trên thế giới, để xác định được khe hổng nghiên cứu, luận văn nhận thấy rằng hiện tại các nghiên cứu ở Việt Nam chưa xem xét đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCBP và việc nghiên cứu cũng chưa được thực hiện trên cả hai sàn HNX và HOSE. Do đó, luận văn xác định nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCBP trên thị trường chứng khoán Việt Nam, để giúp cho thông tin được phù hợp và hữu ích hơn. 14 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khái niệm về báo cáo bộ phận Một số khái niệm liên quan đến báo cáo bộ phận được đưa ra, theo những nguyên tắc được chấp nhận chung (US GAAP), đưa ra khái niệm báo cáo bộ phận là báo cáo của các bộ phận hoạt động của một công ty trong việc trình bày kèm theo báo cáo tài chính của nó.
Báo cáo bộ phận cần thiết cho công ty đại chúng và không cần thiết cho công ty tư nhân. Báo cáo bộ phận được thiết kế để cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư và chủ nợ mà có liên quan đến các kết quả tài chính của công ty (theo US GAAP). Một bộ phận tham gia vào hoạt động kinh doanh của công ty mà từ đó, bộ phận này có thể kiếm thu nhập và phải chịu chi phí phát sinh, có thông tin tài chính riêng biệt sẵn có, đồng thời kết quả thường xuyên được xem xét bởi giám đốc điều hành của tổ chức, thông qua việc đánh giá hoạt động và phân bổ nguồn lực, thì cần thực hiện theo các quy tắc để xác định các thông tin cần phải được báo cáo. Ngoài ra, theo quan điểm của Ijiri (1995) cho rằng, báo cáo bộ phận là các số liệu tài chính riêng của các đơn vị, công ty con hoặc những bộ phận khác nhau của một công ty.
Tất cả các công ty niêm yết phải công bố lợi nhuận và chi phí bộ phận với những thông tin có liên quan như doanh thu bên ngoài, doanh thu nội bộ, thu nhập, chi phí, các khoản mục không dùng tiền mặt…Bên cạnh đó, công ty này cũng phải cung cấp cho người sử dụng để hiểu sự khác biệt giữa thông tin hợp nhất và các thông tin được cung cấp dưới báo cáo bộ phận. Các định nghĩa không hoàn toàn giống nhau, theo quan điểm của luận văn dựa trên chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 28, BCBP có thể được hiểu là báo cáo của doanh nghiệp, đươc lập theo các nhóm sản phẩm và dịch vụ hoặc theo những bộ phận hoạt động trong các khu vực địa lý khác nhau, có các cơ hội thăng tiến, triển vọng và rủi ro khác nhau. BCBP cần thiết cho việc đánh giá rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh 15 nghiệp, với một cái nhìn cụ thể và chính xác hơn, nhằm cung cấp cho người sử dụng BCTC những thông tin hữu ích cho việc đưa ra quyết định kinh tế. Khái niệm về chất lượng thông tin Thông tin là những sự kiện, con số được thể hiện trong một hình thức hữu ích với người sử dụng để phục vụ việc ra quyết định.
Thông tin có ích với việc ra quyết định vì nó giảm sự không chắc chắn và tăng tri thức về vấn đề được đề cập Gelinas and Dull (2008). Có rất nhiều quan điểm và tiêu chuẩn khác nhau về chất lượng thông tin. Chẳng hạn, theo Wang và cộng sự năm 1999 cho rằng chất lượng thông tin là thông tin phù hợp cho việc sử dụng của người sử dụng thông tin” (đây là quan điểm phổ biến nhất về chất lượng thông tin vì nó xuất phát từ các nghiên cứu có tính kinh điển về chất lượng của Deming (1986), Juran and Gryna (1988), Figenbaum (1991), Khalil et al. (1999); hoặc theo Kahn, Strong (1998) “chất lượng thông tin là đặc tính của thông tin để giúp đạt được các yêu cầu hay sự mong đợi của người sử dụng thông tin”; hoặc theo Lesca, Lesca (1995) chất lượng thông tin được định nghĩa là sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu được xác định bởi mục tiêu và thông tin đạt được.
Trong một tình huống lý tưởng sẽ không có sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt được. Việc đo lường chất lượng thông tin có tính cảm tính và sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt được càng nhỏ thì chất lượng thông tin càng cao” theo Eppler and Wittig (2000). Tuy các khái niệm và quan điểm của các nhà nghiên cứu về chất lượng thông tin có sự khác nhau, nhưng chúng đều có 1 số đặc điểm chung, đó là: Chất lượng thông tin hay chất lượng dữ liệu tùy thuộc cảm nhận của người sử dụng thông tin. Nó có nhiều đặc tính (hay tính chất) khác nhau tùy thuộc vào quan điểm triết lý của người sử dụng hay nghiên cứu và nó cần được xem xét trong bối cảnh (hay ngữ cảnh) cụ thể của người sử dụng thông tin Knight and Burn (2005).
Điều này có thể được lý giải rõ ràng rằng cùng một thông tin như nhau nhưng với người này cho rằng thế là tốt nhưng với 16 người khác lại không phù hợp. Hoặc cùng một thông tin như nhau, nếu được lấy từ nguồn là giấy tờ, báo chí thì người sử dụng có thể cảm thấy tin tưởng hơn là lấy từ trên mạng vì khó kiểm chứng nguồn gốc dữ liệu. Những vấn đề liên quan đến báo cáo bộ phận 2. Đối với chuẩn mực kế toán quốc tế: Báo cáo bộ phận theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 14 ra đời năm 1981, được sửa đổi năm 1997 và 2003.
Đến năm 2006 Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đã ban hành Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 8 thay thế cho IAS 14 và chính thức áp dụng từ 1/1/2009. Nội dung chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 8: - Phạm vi áp dụng IFRS 8: BCTC riêng hay BCTC của một công ty và BCTC hợp nhất của tập đoàn mà công ty mẹ, có các công cụ nợ hoặc công cụ vốn được trao đổi trên thị trường chứng khoán nội địa hoặc nước ngoài hoặc thị trường OTC tại địa phương hoặc trong khu vực. Đã nộp hồ sơ hoặc đang trong quá trình chuẩn bị đăng ký với trung tâm chứng khoán hoặc các cơ quan, tổ chức pháp quy cho mục đích phát hành bất cứ loại công cụ tài chính ra công chúng (theo IFRS 8). - Bộ phận cần báo cáo là bộ phận đáp ứng được các điều kiện sau: Đáp ứng được các điều kiện của bộ phận hoạt động hoặc các điều kiện để tổng hợp của 2 hay nhiều bộ phận hoạt động.
Điều kiện để kết hợp các bộ phận hoạt động là các bộ phận có các đặc điểm về kinh tế tương tự gần giống nhau ở các điểm: Sản phẩm và dịch vụ, quy trình sản xuất, các nhóm khách hàng hướng tới, phương pháp phân phối sản phẩm, môi trường pháp lý và quy định. Doanh thu báo cáo bao gồm cả doanh thu bán cho khách hàng bên ngoài và doanh thu cung cấp cho các bộ phận bên trong, thấp nhất là 10% của tổng doanh thu bán ra ngoài và nội bộ của tất cả các bộ phận hoạt động. Giá trị tuyệt đối của lãi / lỗ bộ phận báo cáo phải thấp nhất là 10% giá trị tuyệt đối của giá trị nào lớn hơn trong hai giá trị: Tổng lãi của tất cả các bộ phận hoạt động 17 không phát sinh lỗ và tổng lỗ của tất cả các bộ phận hoạt động có phát sinh lỗ. Tài sản riêng của bộ phận phải đạt ít nhất 10% tổng tài sản của tất cả các bộ phận hoạt động.
Các bộ phận hoạt động không đáp ứng bất cứ các điều kiện nào trên đây vẫn có thể cân nhắc việc báo cáo như là một bộ phận riêng rẽ nếu ban quản trị tin rằng những thông tin về bộ phận này sẽ hữu ích cho người sử dụng BCTC. Nếu tổng doanh thu cung cấp cho bên ngoài của các bộ phận được báo cáo chỉ đạt thấp hơn 75% doanh thu của công ty thì phải xác định thêm các bộ phận báo cáo ngay cả khi nó không đủ điều kiện là một bộ phận báo cáo cho đến khi ít nhất 75% doanh thu công ty được thể hiện trong BCBP (theo IFRS 8). Đối với chuẩn mực kế toán Việt Nam: Ngày 15 tháng 2 năm 2005, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 12/2005/QĐ- BTC bao gồm sáu chuẩn mực kế toán Việt Nam (ban hành trong đợt bốn), trong đó có chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 28 “Báo cáo bộ phận”. Chuẩn mực này dựa trên chuẩn mực IAS 14 của quốc tế và được áp dụng cho đến nay.
Vì thế, chưa có chuẩn mực nào thay thế hay sửa đổi bổ sung cho chuẩn mực VAS 28. Nội dung chuẩn mực VAS 28: - Phạm vi áp dụng và các bộ phận cần báo cáo: Chuẩn mực VAS 28 áp dụng cho doanh nghiệp có chứng khoán trao đổi công khai và doanh nghiệp đang phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Chuẩn mực khuyến khích các doanh nghiệp không phát hành hoặc không có chứng khoán trao đổi công khai áp dụng chuẩn mực này. Nếu báo cáo tài chính bao gồm báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn có chứng khoán được trao đổi công khai và báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ và của một hoặc nhiều công ty con, thông tin theo bộ phận cần phải trình bày trong báo cáo tài chính hợp nhất.
Nếu công ty con có chứng khoán trao đổi công khai, thì công ty con đó sẽ trình bày thông tin bộ phận trong báo cáo tài chính riêng của mình (theo VAS 28). - Bộ phận cần báo cáo: VAS 28 không yêu cầu báo cáo riêng rẽ tất cả các bộ phận của doanh nghiệp, mà một lĩnh vực kinh doanh hay khu vực địa lý cần được xác định 18 là một bộ phận phải báo cáo khi phần lớn doanh thu phát sinh từ bán hàng ra ngoài, đồng thời thoả mãn một trong các điều kiện trong chuẩn mực yêu cầu sau: Tổng doanh thu của bộ phận từ việc bán hàng ra ngoài và từ giao dịch với các bộ phận khác phải chiếm từ 10% trở lên trên tổng doanh thu của tất cả bộ phận. Kết quả kinh doanh của bộ phận này bất kể lãi (hay lỗ) chiếm từ 10% trở lên trên tổng lãi (hay lỗ) của tất cả các bộ phận có lãi (hoặc trên tổng lỗ của tất cả các bộ phận lỗ) nếu đại lượng nào có giá trị tuyệt đối lớn hơn. Tài sản của bộ phận chiếm từ 10% trở lên trên tổng tài sản của tất cả các bộ phận.