chương 1 Xác định vấn đề nghiên-cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQT và mức độ CBTT là rất quan trọng và được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu, nhưng tại Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này, vì vậy, chương một đã đưa ra lý do nghiên cứu. vấn đề nghiên cứu “đặc điểm HĐQT và mức độ CBTT” đã được xác định. Bên cạnh đó, chương một cũng đã nêu ra câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Luận văn tập trung vào các đặc điểm HĐQT như: quy mô HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT, thành viên HĐQT độc lập không điều hành, quyền kiêm nhiệm, tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT ảnh hưởng đến mức độ CBTT, với dữ liệu được thu thập năm 2013.
Cuối chương là phần ý nghĩa và bố cục của luận văn. 7 CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN cứu \. - — CHƯƠNG 2: Cơ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN cứu Trong chương này, luận văn sẽ trình bày những vấn đề cơ bản về CBTT trên TTCK. Đồng thời, trình bày các lý thuyết liên quan đến CBTT, các đặc điểm của HĐQT được sử dụng trong nghiên cứu; mức độ CBTT và mối quan hệ giữa các đặc điểm này với mức độ CBTT.
Bố cục chương này được trình bày theo năm phần sau đây: 2.1 Những vấn đề cơ bản về CBTT trên TTCK 2.1 Khái niệm về CBTT doanh nghiệp trên TTCK CBTT là một kênh thông qua đó các cổ đông hiện hữu và tiềm năng có thể có được thông tin về giá trị liên quan đến DN. Đây là kênh kết nối giữa người bên trong DN và nhà đầu tư trên thị trường vốn (Omran, 2013). Theo quan điểm của BTC được thể hiện trong sổ tay CBTT giành cho các DN niêm yết thì minh bạch hóa thông tin trên TTCK là một trong những nhân tố quan trọng nhất để giúp TTCK phát triển. CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DN nhàm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời (Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), 2012).
Cũng theo sổ tay CBTT, việc CBTT của DN niêm yết có thể được thực hiện qua hai phương tiện là BCTN và website. Phương tiện thứ nhất là BCTN. BCTN là ấn phẩm thường niên cung cấp.thông tin toàn diện về tình hình hoạt động kinh doanh và tài chính của công ty trong năm tài chính liền trước. Thời hạn công bố BCTN chậm nhất là 20 ngày sau khi công bố báo cáo tài chính (BCTC) năm được kiểm toán.
Nội dung công bố theo mẫu tại phụ lục 02 của TT 52/2012/TT-BTC được lập bằng tiếng Việt, tiếng Anh (nếu có). Thông tin tài chính trong BCTN phải phù hợp với BCTC năm được kiểm toán. Phương tiện thứ hai dùng để CBTT là website, đây là kênh truyền thông hiệu quả và kinh tế trong thời đại công nghệ cao hiện nay. Đây được xem là một trong những kênh thông tin chính thống của tổ chức niêm yết.
8 CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN cứu 2.2 Vai trò CBTT doanh nghiệp trên TTCK CBTT là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa DN và các đối tượng sử dụng thông tỉn bên ngoài DN (Adina & lon, 2008). Thật vậy, đối với các DN niêm yểt, nhu cầu tìm hiểu thông tin về DN không chỉ dừng lại ở các chủ sở hữu mà còn là các nhà đầu tư. Chính vì vậy, yêu cầu CBTT đặt ra cho các DN niêm yết luôn nghiêm ngặt hơn so với các DN khác. Việc CBTT đầy đủ và chính xác có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo lập và duy trì niềm tin của công chúng đối với DN.
Tầm quan trọng của việc CBTT chính xác, kịp thời không chỉ có ý nghĩa với DN, nhả đầu tư mà còn đối với cơ quan quản lý. Với DN là việc tạo lập, duy trì mối quan hệ, sự gắmkết với cổ đông, các bên có liên quan và thu hút đầu tư hiệu quả. Với nhà đầu tư đó là cơ hội tiếp cận cẩc thông tin hữu ích giúp đưa ra quyết định đầu tư phù họp cũng như giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của DN. Với cơ quan quản lý đó là kênh thông tin phục vụ công tác giám sát, quản lý thị trường.3 Nguyên tắc công bố thông tin CBTT của DN niêm yết cần tuân thủ theo các quy định tại Thông tư 52/2012/TT-BTC với các nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất, việc CBTT phải đầy đủ, chính xác và kịp thời.
Thứ hai, CBTT phải do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền CBTT (đã được đăng ký theo mẫu phụ lục 01 của TT 52) thực hiện. Người đại diện theo pháp luật của DN phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do người được ủy quyền CBTT công bổ. Nguyên tắc thứ ba, DN niêm yết khi thực hiện CBTT phải đồng thời báo cáo nội dung thông tin công bố cho ủy ban chứng khoán nhà nước (UBCKNN). Nguyên tắc thứ năm, ngày CBTT là ngày thông tin xuất hiện trên phương tiện CBTT.
Ngày báo cáo về việc CBTT là ngày gửi fax, gửi dữ liệu điện tử (qua email hoặc hệ thống công nghệ thông tin tiếp nhận báo cáo), ngày ƯBCKNN nhận được thông tin công bổ bằng văn bản. Nguyên tắc thứ sáu, ngôn ngữ thực hiện CBTT trên TTCK Việt Nam phải là tiếng Việt. Trường hợp pháp luật quy định CBTT bổ sung bằng ngôn ngữ khác, ngôn ngữ thực hiện CBTT bao gồm tiếng việt và ngôn ngữ khác theo quy định. Nguyên tắc thứ bảy, trường họp có sự thay đổi nội dung thông tin đã công bố, DN niêm yết phải đồng thời có báo cáo và có văn bản giải trình cho UBCKNN.
Và nguyên tắc cuối cùng là 9 CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN cứu các đối tượng CBTT thực hiện bảo quản, lưu trữ thông tin đã báo cáo, công bố theo quy định của pháp luật.4 Tổng quan tình hình hoạt động của HoSE trong năm 2013 Năm 2013, chỉ -số của thị trường HoSE thuộc nhóm các thị trường có tốc độ tăng trưởng tốt nhất. Chỉ so VN index được đánh giá là 1 trong 10 nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thể giới. Riêng trong khu vực Đông Nam Á, với mức tăng 21,97% VN- Index là chỉ số tổng hợp có mức tăng trưởng mạnh mẽ nhất. Hoạt động hũy động vốn trên thị trường có dấu hiệu khởi sắc.
Trong đó, tại HoSE đã diễn ra 29 cuộc đấu giá cổ phần, 16 cuộc bán đấu giá cổ phần phát hành lần đầu. Tổng khối lượng đấu giá đạt trên 70,53 triệu cổ phần, tăng 551,3%, với tổng số tiền thu được hơn 825 tỷ đồng, tăng 426,2% so .2O13 cũng đã có 120 đợt niêm yết bổ sung với khối lượng đạt hơn 2,74 tỷ cổ phiếu, tiền huy động đạt 29.971 tỷ đồng, lần lượt tăng 26% và 13,11% so với năm 2012. Mặc dù thị trường đạt mức tăng trưởng ấn tượng nói trên nhưng năm 2013 lại là năm đầu tiên có sự sụt giảm về lượng chứng khoán mới niêm yết và gia tăng về hủy niêm yết. Theo đó, năm 2013 chỉ có 4 “tân binh” gia nhập và có tới 5 chứng khoán hủy niêm yết trên sàn HoSE (Huyền Trâm, 2014).1: số lượng công ty niêm yết ở sàn HoSE từ 2007 - 2013 Số lượng công ty niêm yết từ năm 2007 - 2013 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Nguồn: HoSE 2.5 Tình hình CBTT của các DN niêm yết trên TTCK Việt Nam Các DN niêm yết trở thành công ty đại chúng bắt buộc phải có cổ đông hay các nhà đầu tư.
Điều này có ý nghĩa sống còn với DN niêm yết. Tuy nhiên trên thực tế, hầu hết các DN niêm yết trên sàn ít quan tâm đến cổ đông của mình. Sự kém minh bạch, lập 10 CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN cứu lờ, úp mở trong CBTT của -DN có thể gây thiệt hại lớn cho nhà đầu tư. Do đó, thông tin có vai trò rất quan trọng trên TTCK, bất kỳ thông tin xấu hay tốt đều có thể ảnh hưởng đến TTCK.
Việc CBTT sai lệch hay CBTT không đầy đủ, kịp thời sẽ ảnh hưởng đến cáo đối tượng sử dụng thông tin. Theo quy định tại thông tư số 52/2012/TT- BTC, tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn CBTT về BCTC quý trong thời hạn hai mươi (20) ngày, kể từ ngày kết thúc quý. Trường hợp tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn là công ty mẹ hoặc đơn vị kế toán cấp trên có các đơn vị kế toán trực thuộc thì phải CBTT về BCTG của công ty mẹ và BCTC họp nhất hoặc BCTC tổng họp trong thời hận bốn mươi lăm (45) ngày, kể từ ngày kết thúc quý. Theo thống kê của Vietstock, có khoảng 80 đơn vị đơn lẻ đã vi phạm CBTT về BCTC quý.
Trong đỏ chủ yếu là các DN niêm yết trên HNX như HAT, BTS, CMI, CTA, DC4, HST. Một thống kê khác được tổng họp trên trang cafef.vn thì trên TTCK Việt Nam, việc minh bạch thông tin là rất yếu. Chỉ có 29/694 DN niêm yết (chiếm tỷ lệ 4,18%) bảo đảm tốt việc CBTT cho nhà đầu tư. Như vậy, có đến 95% DN niêm yết trên hai sàn chứng khoán vi phạm lỗi về CBTT bắt buộc (Sơn Long, 2013).
Trong đó, DN trên sàn HoSE luôn chấp hành tốt hơn sàn HNX. Một số DN đã nỗ lực hoàn thành tốt trách nhiệm với cổ đông, minh bạch với TTCK trong cả hai năm 2011, 2012 nhưng đến năm 2013 không thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ này. Trong đó, đáng tiếc nhất có lẽ là trường họp của VNM. DN này luôn được nhà đầu tư trong và ngoài nước đánh giá cao về cả hoạt động kinh doanh lẫn hoạt động IR, nhưng trong năm nay đã sơ suất chậm công bố giấy phép kinh doanh sửa đổi.
Ngoài ra, còn có một số trường hợp vi phạm đã bị xử phạt hành chính như sau: Ngày 14/02/2014 UBCKNN đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hai DN công ty nhựa bao bì Vinh, và công ty cổ phần Dược - Vật tư y tế Đăk Lăk. Công ty nhựa bao bì Vinh bị phạt 50 triệu đồng do CBTT không kịp thời theo quy định về BCTC đã được kiểm toán năm 2012, báo cáo tình hình quản trị công ty năm 2012, báo cáo tình hình quản trị sáu tháng đầu năm 2013. Công ty cổ phần Dược - Vật tư y tế Đăk Lăk phạt 50 triệu đồng do CBTT không kịp thời theo quy định về BCTC đã được kiểm toán năm 2012, báo cáo tình hình quản trị công ty sáu tháng đầu năm 2013.