Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán (mã số 93.301) của tác giả Ngô Nhật Phương Diễm, với đề tài "Nhân tố tổng hợp đại diện quản trị công ty tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam", được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Đình Trực và TS. Trần Văn Thảo tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (hoàn thành tháng 2 năm 2019). Nghiên cứu giải quyết mối quan hệ giữa cơ chế quản trị công ty (QTCT) và hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) tại các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ ba lý do thực tiễn và lý thuyết được tác giả trình bày cụ thể:
- Thứ nhất, hành vi QTLN gây tổn thất nghiêm trọng đến giá trị vốn đầu tư của cổ đông và sự ổn định của thị trường tài chính. Tác giả dẫn chứng hàng loạt vụ bê bối tài chính quốc tế như Enron (năm 2001 gây thiệt hại khoảng 70 tỷ USD cho nhà đầu tư, giá cổ phiếu từ 90 USD sụt giảm xuống dưới 1 USD, hơn 80.000 nhân viên mất việc làm) và WorldCom (thiệt hại 180 tỷ USD đối với cổ đông, nền kinh tế Mỹ thiệt hại khoảng 10 tỷ USD, 20.000 nhân viên mất việc). Tại Việt Nam, nhiều công ty niêm yết ghi nhận sự sụt giảm lợi nhuận nghiêm trọng sau kiểm toán, điển hình như CTCP Kỹ Nghệ Gỗ Trường Thành (năm 2017 giảm 91% lợi nhuận sau kiểm toán), CTCP Hoàng Anh Gia Lai (giảm 661 tỷ đồng), Tổng công ty Thép Việt Nam (giảm 108 tỷ đồng), CTCP Hùng Vương (lỗ tăng thêm 642 tỷ đồng), CTCP Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang (từ lãi 4 tỷ đồng thành lỗ 187 tỷ đồng), và CTCP Đầu tư Thương mại Thủy sản (ICF, lỗ tăng từ 21,42 tỷ lên 29,04 tỷ đồng).
- Thứ hai, các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và trên thế giới chủ yếu tập trung vào các đặc điểm riêng lẻ của QTCT (quy mô, tính độc lập, chuyên môn tài chính, số lần họp...) tác động đến QTLN nhưng cho kết quả mâu thuẫn, thiếu nhất quán. Khi tác giả tiến hành hồi quy đơn biến và đa biến đối với từng đặc điểm riêng lẻ của Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban kiểm soát (BKS) với mẫu khảo sát, các đặc điểm này phần lớn không thể hiện mối tương quan có ý nghĩa với QTLN dồn tích (ngoại trừ đặc điểm chuyên môn của BKS). Dựa trên lý thuyết tới hạn (Critical mass theory), tác giả lập luận rằng các thuộc tính đơn lẻ chưa đạt ngưỡng tác động, do đó việc kết hợp thành nhân tố tổng hợp là cần thiết để phản ánh đầy đủ hiệu quả giám sát.
- Thứ ba, ngành sản xuất đóng vai trò trọng yếu trong nền kinh tế (theo Tổng cục Thống kê, quý 1 năm 2018 ngành công nghiệp sản xuất tăng 9,7%, đóng góp 3,39 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng GDP 7,38%), tuy nhiên các nghiên cứu thực nghiệm trước đó (như Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016) chỉ ra đây là nhóm ngành có chất lượng báo cáo tài chính thấp nhất. Mặc dù vậy, tại Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về hành vi QTLN đối với riêng các công ty sản xuất niêm yết.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của luận án được xác định rõ ràng:
- Mục tiêu nghiên cứu 1: Khám phá nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN tại các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam.
- Mục tiêu nghiên cứu 2: Đo lường mức độ tác động của nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN tại các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam.
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN tại công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam là gì?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Mức độ tác động của nhân tố tổng hợp đại diện QTCT ảnh hưởng đến hành vi QTLN tại các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam như thế nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN.
- Phạm vi không gian: Các công ty sản xuất niêm yết (CTSXNY) trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2012–2016. Mốc năm 2012 được chọn vì là thời điểm Bộ Tài chính ban hành Thông tư 121/2012/TT-BTC quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết, giúp dữ liệu QTCT trên báo cáo thường niên và báo cáo quản trị được công bố đầy đủ; mốc năm 2016 là năm tài chính cuối cùng có đầy đủ dữ liệu báo cáo tài chính kiểm toán tại thời điểm thu thập dữ liệu nghiên cứu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và tổng hợp chi tiết các nhánh nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước liên quan đến nhận diện hành vi QTLN và các yếu tố tác động.
Về mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận:
- Quản trị lợi nhuận qua hoạt động kinh tế thực (Real Earnings Management - REM): Mô hình nền tảng của Roychowdhury (2006) kế thừa định nghĩa từ Healy và Wahlen (1999), Zang (2006), Graham và cộng sự (2005), Dechow và cộng sự (1998). Roychowdhury (2006) đo lường REM dựa trên 3 dấu hiệu bất thường: dòng tiền hoạt động kinh doanh bất thường ($CFO$), chi phí sản xuất bất thường ($PROD$) và chi phí hữu ích bất thường ($DISEXP$).
- Quản trị lợi nhuận theo cơ sở dồn tích (Accrual-based Earnings Management - AEM): Các mô hình đo lường dồn tích có thể điều chỉnh ($DA$) được phát triển qua các thời kỳ:
- Mô hình Healy (1985) và mô hình DeAngelo (1986): giả định dồn tích không thể điều chỉnh ($NDA$) bằng 0 hoặc không đổi giữa các năm.
- Mô hình Jones (1991): khắc phục nhược điểm bằng cách kiểm soát sự thay đổi của doanh thu ($\Delta REV$) và nguyên giá tài sản cố định hữu hình ($PPE$).
- Mô hình Dechow, Sloan và Sweeney (1995) (mô hình Jones điều chỉnh): loại trừ chênh lệch các khoản phải thu ($\Delta AR$) khỏi biến doanh thu để ghi nhận doanh thu không bằng tiền.
- Mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005): bổ sung biến tỷ suất sinh lời trên tài sản ($ROA_{t-1}$) nhằm kiểm soát hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
- Các mô hình khác: Jeter và Shivakumar (1999) sử dụng dòng tiền hoạt động kinh doanh theo quý; Yoon và cộng sự (2002, 2006) thiết lập mô hình thích ứng với thị trường châu Á dựa trên doanh thu bằng tiền, chi phí bằng tiền, chi phí khấu hao và dự phòng.
- Tại Việt Nam: Phạm Thị Bích Vân (2012) cho rằng mô hình Jones (1991) không phù hợp; Nguyễn Hà Trang (2014) và Nguyễn Anh Hiền, Phạm Thành Trung (2015) nhận định mô hình Jones điều chỉnh (2005) là tối ưu; Vo và Duong (2017) cho rằng mô hình Jones (1991) và Kothari và cộng sự (2005) là phù hợp nhất. Nhận thấy Jones (1991) là mô hình gốc được thiết kế cho các công ty sản xuất công nghiệp tại Mỹ, tác giả đã lựa chọn mô hình Jones (1991) để đo lường $DA$ và mô hình Roychowdhury (2006) để đo lường $REM$.
Về tác động của quản trị công ty đến quản trị lợi nhuận:
- Nghiên cứu các đặc điểm riêng lẻ của QTCT: Các công trình quốc tế như Chtourou và cộng sự (2001), Klein (2002), Xie và cộng sự (2003), Abbott và cộng sự (2004), Ebrahim (2007), Osma (2008), Lin (2011), Susanto và Pradipta (2016), Murhadi (2010), Gulzar và Wang (2011), Swastika (2013), Soliman và Ragab (2013), Seng và Findlay (2013), Nugroho và Eko (2011), Moradi và cộng sự (2012) đưa ra những kết luận mâu thuẫn về vai trò của tỷ lệ thành viên độc lập, quy mô HĐQT và số lần họp. Tại Việt Nam, Nguyễn Trọng Nguyên (2015), Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), Essa và cộng sự (2016), Bùi Văn Dương và Ngô Hoàng Điệp (2017), Nguyễn Hà Linh (2017), Phạm Thị Kiều Trang (2017) cũng ghi nhận kết quả không nhất quán giữa các thuộc tính riêng lẻ của HĐQT, BKS và chất lượng BCTC/QTLN.
- Nghiên cứu theo hướng nhân tố tổng hợp: Carcello, Klein và Neal (2006) xây dựng biến tổng hợp QTCT mạnh gồm 6 đặc điểm; Kang và Kim (2012) tại Hàn Quốc xây dựng chỉ số HĐQT tổng hợp từ 5 đặc điểm đối với 368 công ty sản xuất; Hassan và Ahmed (2012) tại Nigeria thiết lập chỉ số tổng hợp BKS từ 3 đặc điểm; Hoang (2014) tại Việt Nam nghiên cứu chỉ số tổng hợp đại diện sự đa dạng HĐQT về cơ cấu và chức năng tác động đến chất lượng lợi nhuận.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
- Hầu hết các nghiên cứu xem xét QTCT dựa trên các thuộc tính đơn lẻ dẫn đến kết quả mâu thuẫn; tại Việt Nam chưa có công trình nào xây dựng nhân tố tổng hợp đại diện HĐQT và nhân tố tổng hợp đại diện BKS để đánh giá tác động đến hành vi QTLN.
- Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam sử dụng mẫu gộp tất cả các công ty phi tài chính niêm yết, hoàn toàn chưa có nghiên cứu chuyên biệt tập trung vào nhóm công ty sản xuất niêm yết – đối tượng có đóng góp GDP lớn nhưng chất lượng BCTC bị đánh giá là thấp nhất.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm nền tảng
- Định nghĩa quản trị công ty: Tác giả tiếp cận định nghĩa QTCT từ Báo cáo Cadbury (1992), OECD (1999, 2004), Dahya và cộng sự (1996), Shleifer và Vishny (1997), Wolfensohn (1999), Monks và Minow (2004), Franklin (2005), Solomon (2007) và Quy chế QTCT của Bộ Tài chính Việt Nam (2007). Theo đó, QTCT là hệ thống các quy tắc để đảm bảo công ty được định hướng, điều hành và kiểm soát hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi của cổ đông và các bên liên quan.
- Mô hình quản trị công ty: Phân biệt giữa mô hình một cấp (Anglo-Saxon: ĐHĐCĐ, HĐQT, Ban giám đốc và Ủy ban kiểm toán trực thuộc) và mô hình hai cấp (châu Âu lục địa: tách biệt cơ quan quản lý và cơ quan giám sát). Tại Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp và Nghị định 71/2017/NĐ-CP, mô hình phổ biến là mô hình hai cấp gồm Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, BKS và Ban điều hành.
- Quản trị lợi nhuận: Ronen và Yaari (2008), Healy và Wahlen (1999) định nghĩa QTLN là hành vi can thiệp có chủ đích của nhà quản lý vào quá trình lập báo cáo tài chính hoặc cấu trúc giao dịch nhằm làm sai lệch bức tranh kinh tế thực tế. Hành vi này chia làm hai hình thức: AEM (thao túng ước tính kế toán dồn tích) và REM (điều chỉnh quyết định kinh doanh thực tế về sản xuất, bán hàng, chi phí nghiên cứu và quản lý).
Luận án sử dụng 5 lý thuyết nền tảng kết hợp với lý thuyết tới hạn:
- Lý thuyết đại diện (Agency theory - Jensen & Meckling, 1976; Fama & Jensen, 1983): Giải thích xung đột lợi ích giữa cổ đông (bên ủy nhiệm) và nhà quản lý (bên nhận ủy nhiệm), làm phát sinh nhu cầu giám sát thông qua HĐQT và BKS.
- Lý thuyết phát tín hiệu (Signaling theory): Giải thích tình trạng bất cân xứng thông tin giữa ban điều hành và các nhà đầu tư, dẫn đến xu hướng quản trị lợi nhuận nhằm phát tín hiệu sai lệch ra thị trường.
- Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource dependency theory): Nhấn mạnh HĐQT và BKS phải hội tụ đủ nguồn lực (quy mô, năng lực chuyên môn, sự kết nối mạng lưới) để hỗ trợ và giám sát ban điều hành hiệu quả.
- Lý thuyết các bên có liên quan (Stakeholder theory): Mở rộng trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp không chỉ với cổ đông mà còn với chủ nợ, người lao động, nhà cung ứng và cơ quan nhà nước.
- Lý thuyết hành vi (Behavioral theory): Phân tích động cơ tư lợi của nhà quản lý trong việc lựa chọn chính sách kế toán hoặc điều chỉnh hoạt động kinh doanh để tối đa hóa tiền thưởng hoặc giữ vị trí quản lý.
- Lý thuyết tới hạn (Critical mass theory - Granovetter, 1978; Kramer và cộng sự, 2006): Lập luận rằng một yếu tố hay thuộc tính riêng lẻ chưa đủ sức tạo ra sự thay đổi; chỉ khi các thuộc tính kết hợp lại thành một chỉnh thể đạt ngưỡng nhất định thì mới tạo ra tác động kiểm soát đáng kể đối với hành vi QTLN.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp theo thiết kế tuần tự khám phá (exploratory sequential mixed method) gồm 2 giai đoạn:
| Tiêu chí |
Giai đoạn 1: Nghiên cứu định tính |
Giai đoạn 2: Nghiên cứu định lượng |
| Mục đích |
Khám phá và xây dựng cấu phần thang đo của nhân tố tổng hợp đại diện QTCT (HĐQT và BKS). |
Đo lường mức độ tác động của nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS đến hành vi QTLN ($DA$ và $REM$). |
| Thu thập dữ liệu |
Phỏng vấn sâu với câu hỏi mở đối với 3 nhóm chuyên gia am hiểu về QTLN và kế toán - kiểm toán. |
Thu thập dữ liệu thứ cấp từ BCTC kiểm toán, BCTN, BCQT của các CTSXNY trên HOSE và HNX (2012–2016). |
| Công cụ / Kỹ thuật |
Phân tích nội dung ý kiến chuyên gia, đối chiếu quy định Thông tư 121/2012/TT-BTC. |
Thống kê mô tả, phân tích tương quan Pearson/Spearman, hồi quy Pooled OLS, FEM, REM. |
| Kiểm định mô hình |
Kiểm tra độ phù hợp của các thuộc tính cấu thành chỉ số tổng hợp. |
Kiểm định Breusch-Pagan, Hausman; kiểm định khuyết tật mô hình (VIF, Wooldridge); ước lượng Pooled OLS-Robust và FEM. |
Đo lường các biến trong mô hình định lượng:
- Biến phụ thuộc:
- Biến $DA$ (Dồn tích có thể điều chỉnh): Đo lường theo mô hình Jones (1991):
$$\frac{TA_{it}}{A_{it-1}} = \alpha_i \frac{1}{A_{it-1}} + \beta_{1i} \frac{\Delta REV_{it}}{A_{it-1}} + \beta_{2i} \frac{PPE_{it}}{A_{it-1}} + \epsilon_{it}$$
$$\frac{NDA_{it}}{A_{it-1}} = \hat{\alpha}i \frac{1}{A{it-1}} + \hat{\beta}{1i} \frac{\Delta REV{it}}{A_{it-1}} + \hat{\beta}{2i} \frac{PPE{it}}{A_{it-1}}$$
$$DA_{it} = \frac{TA_{it}}{A_{it-1}} - \frac{NDA_{it}}{A_{it-1}}$$
Trong đó: $TA_{it}$ là tổng dồn tích; $A_{it-1}$ là tổng tài sản cuối năm $t-1$; $\Delta REV_{it}$ là thay đổi doanh thu; $PPE_{it}$ là nguyên giá TSCĐ hữu hình.
- Biến $REM$ (Quản trị lợi nhuận qua hoạt động kinh tế): Đo lường theo mô hình Roychowdhury (2006) thông qua độ lệch bất thường của dòng tiền kinh doanh ($CFO$), chi phí sản xuất ($PROD$) và chi phí hữu ích ($DISEXP$).
- Biến độc lập (Nhân tố tổng hợp):
- Nhân tố tổng hợp HĐQT: Chỉnh thể gồm 5 đặc điểm cấu thành: quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập, trình độ chuyên môn tài chính - kế toán, sự kiêm nhiệm hai chức danh (Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc/Giám đốc điều hành), và số lần họp HĐQT trong năm.
- Nhân tố tổng hợp BKS: Chỉnh thể gồm 4 đặc điểm cấu thành: quy mô BKS, tỷ lệ thành viên độc lập, trình độ chuyên môn tài chính - kế toán, và số lần họp BKS trong năm.
- Biến kiểm soát: Quy mô công ty ($SIZE$), cấu trúc vốn / hệ số nợ ($LEV$), tỷ suất sinh lời trên tài sản ($ROA$), kiểm toán bởi Big4 ($AUDIT$), dòng tiền hoạt động kinh doanh ($CFO$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu quốc tế và trong nước về hai mảng trọng tâm: mô hình nhận diện QTLN và tác động của QTCT đến QTLN. Tác giả phân tích chi tiết quá trình phát triển của các mô hình đo lường $DA$ (từ Healy 1985, DeAngelo 1986 đến Jones 1991, Dechow và cộng sự 1995, Kothari và cộng sự 2005, Yoon và cộng sự 2006) và mô hình $REM$ (Roychowdhury, 2006). Đồng thời, tác giả tổng lược các nhóm nhân tố ảnh hưởng gồm: nhóm đặc điểm QTCT, nhóm đặc điểm công ty (cấu trúc vốn, quy mô công ty) và nhóm hiệu quả hoạt động (dòng tiền $CFO$, tỷ suất sinh lời, kiểm toán Big4). Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra khe hổng nghiên cứu: sự thiếu nhất quán của các kết quả nghiên cứu thuộc tính QTCT đơn lẻ, sự thiếu vắng các nghiên cứu về nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS tại Việt Nam, và sự bỏ trống đối tượng khảo sát chuyên biệt là các công ty sản xuất niêm yết.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh cho luận án. Nội dung chương bắt đầu bằng việc làm rõ bản chất của QTCT theo chuẩn mực quốc tế (OECD) và khung pháp lý Việt Nam (Thông tư 121/2012/TT-BTC, Nghị định 71/2017/NĐ-CP), phân tích cơ chế vận hành mô hình quản trị hai cấp tại Việt Nam theo Sơ đồ 2-1 (Đại hội đồng cổ đông $\rightarrow$ HĐQT / BKS $\rightarrow$ Ban điều hành). Tiếp đó, chương phân loại hành vi QTLN thành AEM và REM, chỉ ra động cơ can thiệp của nhà quản lý. Tác giả luận giải 5 lý thuyết nền tảng (Đại diện, Phát tín hiệu, Phụ thuộc nguồn lực, Các bên có liên quan, Hành vi) kết hợp với Lý thuyết tới hạn để giải thích tại sao các thuộc tính QTCT cần phải được tích hợp thành nhân tố tổng hợp mới có thể phát huy sức mạnh giám sát, kiềm chế hành vi QTLN của ban điều hành.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu hỗn hợp gồm hai giai đoạn nối tiếp. Ở giai đoạn định tính, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 3 nhóm chuyên gia am hiểu lĩnh vực để xác định các thuộc tính cấu thành chỉ số tổng hợp HĐQT (5 thành phần) và chỉ số tổng hợp BKS (4 thành phần). Ở giai đoạn định lượng, chương mô tả quy trình chọn mẫu các công ty sản xuất niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2012–2016, xây dựng hai phương trình hồi quy tương ứng với hai biến phụ thuộc $DA$ (Phương trình 1) và $REM$ (Phương trình 2). Chương này cũng định nghĩa chi tiết công thức tính toán các biến phụ thuộc, biến độc lập tổng hợp và các biến kiểm soát ($SIZE$, $LEV$, $ROA$, Big4, $CFO$), đồng thời xác lập quy trình kiểm định kinh tế lượng (chọn lựa giữa Pooled OLS, FEM, REM thông qua kiểm định F, kiểm định Breusch-Pagan, kiểm định Hausman; kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số VIF, kiểm định tự tương quan bằng kiểm định Wooldridge).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 4 báo cáo toàn bộ dữ liệu thực nghiệm thu được từ hai giai đoạn nghiên cứu:
- Kết quả định tính: Phân tích kết quả phỏng vấn sâu khẳng định các thành phần của nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS phù hợp với bối cảnh thể chế quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Thống kê mô tả và tương quan: Trình bày các bảng thống kê mô tả biến phụ thuộc $DA$ và $REM$ (tổng thể và chi tiết theo từng năm từ 2012 đến 2016); thống kê mô tả biến độc lập tổng hợp và các biến kiểm soát định lượng, định tính; ma trận hệ số tương quan giữa các biến cho từng phương trình.
- Phân tích hồi quy và kiểm định mô hình:
- Đối với Phương trình hồi quy 1 (biến phụ thuộc $DA$): Tác giả chạy hồi quy Pooled OLS, FEM và REM; thực hiện các kiểm định lựa chọn mô hình. Sau khi phát hiện các khuyết tật mô hình thông qua kiểm định Wooldridge và kiểm định VIF, tác giả sử dụng mô hình ước lượng Pooled OLS-Robust để xử lý và đưa ra kết quả kết luận.
- Đối với Phương trình hồi quy 2 (biến phụ thuộc $REM$): Tiến hành các bước ước lượng tương tự qua Pooled OLS, FEM và REM; sau các kiểm định kinh tế lượng, mô hình Fixed Effects Model (FEM) được lựa chọn là mô hình phù hợp nhất.
- Bàn luận kết quả: Tác giả lập Bảng 4-19 tổng hợp kỳ vọng và kết quả hồi quy thực tế của cả hai mô hình $DA$ và $REM$, tập trung luận giải tác động của nhân tố tổng hợp HĐQT, nhân tố tổng hợp BKS và các biến kiểm soát trên cơ sở đối chiếu với các lý thuyết nền tảng và nghiên cứu thực nghiệm quốc tế.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 đúc kết các phát hiện chính của luận án, trình bày hệ thống đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn. Dựa trên kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp và hàm ý chính sách cụ thể nhằm nâng cao năng lực QTCT cho các công ty sản xuất niêm yết tại Việt Nam, đồng thời đưa ra khuyến nghị cho các cơ quan quản lý thị trường (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các Sở Giao dịch) và các đơn vị kiểm toán độc lập. Cuối cùng, chương thẳng thắn chỉ ra các giới hạn của nghiên cứu và gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận
- Bổ sung vào kho tàng lý luận về quản trị công ty và kế toán tài chính bằng việc khẳng định vai trò của "Hội đồng quản trị hiệu quả" trong việc hạn chế hành vi QTLN thông qua lăng kính nhân tố tổng hợp thay vì các biến đơn lẻ.
- Cung cấp cơ sở lý luận vững chắc cho các nghiên cứu tiếp theo về việc vận dụng Lý thuyết tới hạn (Critical mass theory) để tích hợp các đặc tính quản trị đơn lẻ (quy mô, tính độc lập, chuyên môn, số lần họp, kiêm nhiệm) thành một chỉ số đại diện hoàn chỉnh, phản ánh đúng bản chất toàn diện của cơ chế giám sát trong doanh nghiệp.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Luận án cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về thực trạng hành vi QTLN (cả dồn tích $DA$ và hoạt động kinh tế $REM$) tại nhóm công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2012–2016.
- Hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) trong việc xây dựng, điều chỉnh các quy định pháp lý, chế tài xử phạt và tiêu chuẩn quản trị bắt buộc đối với công ty niêm yết.
- Cung cấp công cụ thực hành hữu ích cho các công ty kiểm toán và kiểm toán viên độc lập: hỗ trợ đánh giá sơ bộ rủi ro có sai sót trọng yếu do hành vi QTLN thông qua việc xem xét nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS khi lập kế hoạch kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán số 315 (VSA 315).
- Giúp các công ty sản xuất niêm yết nhận thức rõ tầm quan trọng của việc kiện toàn cấu trúc QTCT đồng bộ để hạn chế QTLN, nâng cao chất lượng báo cáo tài chính và gia tăng sự tín nhiệm của nhà đầu tư.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với công ty sản xuất niêm yết: Cần hoàn thiện cơ cấu tổ chức HĐQT và BKS theo hướng đồng bộ các tiêu chí: tăng cường số lượng và tỷ lệ thành viên độc lập thực chất; tách biệt hoàn toàn chức danh Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành/Tổng giám đốc; nâng cao tỷ lệ thành viên có chuyên môn sâu về tài chính - kế toán; duy trì số lượng thành viên và tần suất họp định kỳ đủ để thực thi nhiệm vụ giám sát.
- Đối với cơ quan quản lý và các đơn vị liên quan: Cần tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về quản trị công ty; tăng cường cơ chế kiểm tra tính tuân thủ công bố thông tin quản trị; đẩy mạnh các khóa đào tạo bắt buộc về QTCT cho thành viên HĐQT và BKS; khuyến khích các công ty kiểm toán áp dụng mô hình đánh giá rủi ro hệ thống quản trị khi kiểm toán báo cáo tài chính.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Dữ liệu nghiên cứu bị giới hạn trong khung thời gian 5 năm (từ 2012 đến 2016), chưa cập nhật các biến động thị trường sau năm 2016.
- Mẫu nghiên cứu mới chỉ tập trung vào nhóm công ty sản xuất niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX; chưa mở rộng sang các ngành phi tài chính khác cũng như chưa bao quát các doanh nghiệp sản xuất giao dịch trên sàn UPCoM hoặc doanh nghiệp chưa niêm yết.
- Việc xây dựng nhân tố tổng hợp HĐQT (5 thuộc tính) và BKS (4 thuộc tính) dựa trên các quy định hiện hành tại Thông tư 121/2012/TT-BTC, chưa thể bao quát toàn bộ các khía cạnh quản trị chuyên sâu khác (như chính sách lương thưởng chi tiết, hoạt động của các tiểu ban khác ngoài BKS).
- Nghiên cứu chỉ vận dụng mô hình Jones (1991) để đo lường $DA$ và mô hình Roychowdhury (2006) để đo lường $REM$, chưa đối chiếu chéo với các mô hình dồn tích hiệu chỉnh khác như Kothari và cộng sự (2005) hay Yoon và cộng sự (2006).
Hướng nghiên cứu trong tương lai:
- Mở rộng phạm vi thời gian nghiên cứu sang các năm tiếp theo để đánh giá tác động của Nghị định 71/2017/NĐ-CP và Luật Doanh nghiệp mới.
- Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các nhóm ngành kinh tế khác hoặc so sánh đối chiếu giữa ngành sản xuất với các ngành thương mại, dịch vụ, bất động sản.
- Thử nghiệm kết hợp thêm các tiêu chí quản trị nâng cao khác vào chỉ số tổng hợp và áp dụng các mô hình đo lường $DA$ cải tiến nhằm kiểm tra tính vững chắc của kết quả nghiên cứu.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán, Tài chính: Cung cấp tài liệu tổng quan toàn diện về lý thuyết quản trị công ty, lý thuyết hành vi lợi nhuận và hệ thống công thức các mô hình đo lường $DA$ (Healy, DeAngelo, Jones, Jones điều chỉnh, Kothari, Jeter-Shivakumar, Yoon) và $REM$ (Roychowdhury). Đặc biệt, phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng (Pooled OLS-Robust, FEM) là tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu thực nghiệm.
- Kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán: Chương 3 và Chương 4 cung cấp mô hình thực tiễn giúp kiểm toán viên đánh giá môi trường kiểm soát của đơn vị được kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 315, từ đó xác định sơ bộ rủi ro có sai sót trọng yếu xuất phát từ hành vi can thiệp lợi nhuận.
- Nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà làm chính sách (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các Sở Giao dịch Chứng khoán): Nắm bắt bức tranh thực trạng điều hành tại các công ty sản xuất, từ đó có căn cứ hoàn thiện các chuẩn mực QTCT và tiêu chí giám sát tính minh bạch thông tin trên thị trường vốn.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả lại sử dụng cách tiếp cận "nhân tố tổng hợp" thay vì nghiên cứu từng đặc điểm riêng lẻ của HĐQT và BKS?
Trả lời: Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam khi xem xét các đặc tính đơn lẻ (quy mô, tính độc lập, chuyên môn tài chính, số lần họp) thường đem lại kết quả mâu thuẫn, trái chiều. Kết quả hồi quy thử nghiệm đơn biến và đa biến của chính tác giả với các thuộc tính riêng lẻ cũng không cho thấy mối liên hệ rõ ràng với QTLN. Vận dụng Lý thuyết tới hạn (Critical mass theory), tác giả lập luận rằng từng đặc tính riêng lẻ chưa đạt đến ngưỡng tác động; chỉ khi kết hợp thành một nhân tố tổng hợp (chỉnh thể 5 đặc điểm đối với HĐQT và 4 đặc điểm đối với BKS) thì cơ chế giám sát mới đủ mạnh để tạo ra sự suy giảm đối với hành vi QTLN.
2. Nhân tố tổng hợp HĐQT và nhân tố tổng hợp BKS trong luận án gồm những thành phần cụ thể nào?
Trả lời: Căn cứ vào kết quả nghiên cứu định tính qua phỏng vấn sâu chuyên gia và quy chế QTCT tại Thông tư 121/2012/TT-BTC:
- Nhân tố tổng hợp HĐQT gồm 5 đặc điểm: (1) Quy mô HĐQT; (2) Tỷ lệ thành viên độc lập; (3) Trình độ chuyên môn tài chính - kế toán của thành viên; (4) Sự không kiêm nhiệm hai chức danh (Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành); (5) Số lần họp HĐQT.
- Nhân tố tổng hợp BKS gồm 4 đặc điểm: (1) Quy mô BKS; (2) Tỷ lệ thành viên độc lập; (3) Trình độ chuyên môn tài chính - kế toán của kiểm soát viên; (4) Số lần họp BKS.
3. Luận án đo lường hành vi quản trị lợi nhuận bằng những mô hình nào?
Trả lời: Luận án đo lường hành vi QTLN theo hai khía cạnh:
- Quản trị lợi nhuận dồn tích ($DA$): Đo lường theo mô hình gốc Jones (1991), dựa trên biến thiên tổng dồn tích phụ thuộc vào thay đổi doanh thu ($\Delta REV$) và nguyên giá tài sản cố định ($PPE$).
- Quản trị lợi nhuận qua hoạt động kinh tế ($REM$): Đo lường theo mô hình Roychowdhury (2006), thông qua việc ước lượng độ lệch bất thường của ba chỉ số: dòng tiền hoạt động kinh doanh bất thường ($CFO$), chi phí sản xuất bất thường ($PROD$) và chi phí hữu ích bất thường ($DISEXP$).
4. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ nguồn nào và trong giai đoạn nào?
Trả lời: Dữ liệu định lượng được thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo thường niên và báo cáo quản trị của toàn bộ các công ty sản xuất niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2016. Giai đoạn này bắt đầu từ khi Thông tư 121/2012/TT-BTC có hiệu lực đảm bảo thông tin QTCT được công bố chuẩn hóa và kết thúc vào năm 2016 là năm tài chính hoàn tất thu thập dữ liệu báo cáo kiểm toán tại thời điểm thực hiện đề tài.
5. Luận án đã sử dụng những kỹ thuật hồi quy nào để khắc phục các khuyết tật của mô hình dữ liệu bảng?
Trả lời: Tác giả thực hiện các kiểm định lựa chọn mô hình giữa Pooled OLS, Fixed Effects Model (FEM) và Random Effects Model (REM). Đồng thời, tác giả thực hiện kiểm định Wooldridge để phát hiện hiện tượng tự tương quan và kiểm định hệ số phóng đại phương sai (VIF) để phát hiện đa cộng tuyến. Để khắc phục các khuyết tật này, tác giả đã sử dụng mô hình ước lượng Pooled OLS với sai số chuẩn vững (Pooled OLS-Robust) đối với phương trình phụ thuộc $DA$ và mô hình tác động cố định (FEM) đối với phương trình phụ thuộc $REM$.
Kết luận
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Ngô Nhật Phương Diễm là công trình nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống về tác động của quản trị công ty dưới góc độ nhân tố tổng hợp đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2012–2016. Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa phỏng vấn sâu chuyên gia và phân tích dữ liệu bảng qua các mô hình Jones (1991) và Roychowdhury (2006), luận án đã chứng minh vai trò của cơ cấu HĐQT và BKS đồng bộ trong việc hạn chế hành vi thao túng báo cáo tài chính. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học thực chứng hỗ trợ việc hoàn thiện khung chính sách quản trị công ty, nâng cao độ tin cậy của thông tin kế toán và phục vụ công tác đánh giá rủi ro kiểm toán theo chuẩn mực VSA 315.