Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu tới đcln của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Luận án tiến sĩ phân tích ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến chất lượng lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

249
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM KẾT

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Lí do lựa chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Thiết kế nghiên cứu

1.7. Các đóng góp dự kiến của luận án

1.8. Kết cấu luận án

1.9. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN, CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN

2.1. Cơ sở lý luận về điều chỉnh lợi nhuận

2.1.1. Định nghĩa điều chỉnh lợi nhuận

2.1.2. Phân loại điều chỉnh lợi nhuận

2.1.3. Đo lường điều chỉnh lợi nhuận

2.2. Cơ sở lý luận về cấu trúc sở hữu

2.2.1. Phân loại và đo lường

2.2.2. Mối liên hệ giữa các thành phần sở hữu thuộc cấu trúc sở hữu

2.3. Khung lý thuyết nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến điều chỉnh lợi nhuận trong doanh nghiệp

2.3.1. Lý thuyết người đại diện (Agency theory)

2.3.2. Lý thuyết người quản gia (Stewardship theory)

2.3.3. Lý thuyết thông tin bất đối xứng (Asymmetry information theory)

2.3.4. Lý thuyết chi phí chính trị (Political costs)

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN

3.1. Tổng quan các hướng nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận

3.1.1. Các nghiên cứu về nhận diện và đo lường điều chỉnh lợi nhuận

3.1.2. Các nghiên cứu về sự đánh đổi giữa các cách thức điều chỉnh lợi nhuận

3.1.3. Các nghiên cứu về nhân tố tác động đến điều chỉnh lợi nhuận

3.1.4. Các hướng nghiên cứu khác về điều chỉnh lợi nhuận

3.2. Tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến sự điều chỉnh lợi nhuận

3.2.1. Sở hữu nước ngoài và điều chỉnh lợi nhuận

3.2.2. Sở hữu gia đình và điều chỉnh lợi nhuận

3.2.3. Sở hữu tổ chức và điều chỉnh lợi nhuận

3.2.4. Sở hữu nhà quản lý và điều chỉnh lợi nhuận

3.2.5. Sở hữu tập trung và điều chỉnh lợi nhuận

3.2.6. Sở hữu cổ đông lớn và và điều chỉnh lợi nhuận

3.2.7. Sở hữu nhà nước và điều chỉnh lợi nhuận

3.2.8. Sở hữu tư nhân và điều chỉnh lợi nhuận

3.3. Khoảng trống nghiên cứu

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Thiết kế nghiên cứu

4.2. Giả thuyết nghiên cứu

4.2.1. Ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài đến điều chỉnh lợi nhuận

4.2.2. Ảnh hưởng của sở hữu tổ chức đến điều chỉnh lợi nhuận

4.2.3. Ảnh hưởng của sở hữu nhà quản lí đến điều chỉnh lợi nhuận

4.2.4. Ảnh hưởng của sở hữu cổ đông lớn đến điều chỉnh lợi nhuận

4.2.5. Ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến điều chỉnh lợi nhuận

4.2.6. Động cơ điều chỉnh lợi nhuận

4.2.7. Sự đánh đổi giữa AEM và REM

4.3. Mô hình nghiên cứu

4.3.1. Mô hình tổng quát

4.3.2. Biến phụ thuộc

4.3.3. Biến độc lập

4.3.4. Biến kiểm soát

4.3.5. Mô hình chi tiết

4.4. Dữ liệu nghiên cứu

4.4.1. Nguồn dữ liệu

4.4.2. Lựa chọn mẫu

4.5. Các bước phân tích dữ liệu

4.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ

5.1. Đặc điểm về cấu trúc sở hữu của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5.1.1. Đặc điểm thị trường chứng khoán Việt Nam

5.1.2. Đặc điểm cấu trúc sở hữu của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5.2. Mẫu nghiên cứu

5.3. Đo lường điều chỉnh lợi nhuận

5.3.1. Đo lường điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở dồn tích (AEM)

5.3.2. Đo lường điều chỉnh lợi nhuận thực tế (REM)

5.4. Thống kê mô tả biến

5.5. Kiểm định tự tương quan

5.6. Mô hình hồi quy đa biến

5.6.1. Kết quả hồi qui mô hình với biến phụ thuộc là dòng tiền bất thường từ hoạt động kinh doanh (AbnCFO)

5.6.2. Kết quả hồi qui mô hình với biến phụ thuộc là chi phí tùy ý bất thường (AbnDEXP)

5.6.3. Kết quả hồi qui mô hình với biến phụ thuộc là chi phí sản xuất bất thường (AbnPROD)

5.6.4. Kết quả hồi qui mô hình với biến phụ thuộc là REM kết hợp (COM_REM)

5.6.5. Kết quả hồi qui mô hình với biến phụ thuộc là khoản dồn tích bất thường (AbnDA)

5.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 5

6. CHƯƠNG 6: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, CÁC KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN

6.1. Thảo luận kết quả và kết luận

6.2. Đóng góp của nghiên cứu

6.3. Khuyến nghị chính sách

6.3.1. Khuyến nghị về nâng cao nhận thức của các bên liên quan

6.3.2. Khuyến nghị về công bố thông tin

6.3.3. Khuyến nghị về lựa chọn cấu trúc sở hữu phù hợp

6.3.4. Biện pháp hạn chế điều chỉnh lợi nhuận

6.4. Hạn chế của nghiên cứu

6.5. Định hướng cho nghiên cứu tương lai

6.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 6

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến chất lượng lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữuđiều chỉnh lợi nhuận, đặc biệt trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ và đang phát triển. Luận án tập trung vào các công ty phi tài chính niêm yết, loại trừ các công ty tài chính do đặc thù quản trị riêng biệt.

1.1 Lý do chọn đề tài

Nghiên cứu được thúc đẩy bởi tầm quan trọng của điều chỉnh lợi nhuận trong việc ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính. Các vụ bê bối kế toán như Enron và WorldCom đã làm nổi bật sự cần thiết của việc hiểu rõ ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến chất lượng lợi nhuận. Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán còn non trẻ, các nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận còn hạn chế, đặc biệt là về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận án nhằm hệ thống hóa lý thuyết về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến điều chỉnh lợi nhuận, đánh giá thực tiễn tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, và đề xuất các khuyến nghị chính sách.

II. Cơ sở lý thuyết

Chương này trình bày các lý thuyết nền tảng về điều chỉnh lợi nhuậncấu trúc sở hữu, bao gồm các định nghĩa, phân loại, và phương pháp đo lường. Các lý thuyết như Lý thuyết người đại diện (Agency theory), Lý thuyết người quản gia (Stewardship theory), và Lý thuyết thông tin bất đối xứng (Asymmetry information theory) được sử dụng để giải thích mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữuđiều chỉnh lợi nhuận.

2.1 Định nghĩa điều chỉnh lợi nhuận

Điều chỉnh lợi nhuận được định nghĩa là quá trình can thiệp có chủ ý vào báo cáo tài chính để đạt được mức lợi nhuận mong muốn. Có hai cách thức chính: điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích (AEM)điều chỉnh lợi nhuận thực tế (REM).

2.2 Cấu trúc sở hữu

Cấu trúc sở hữu đề cập đến sự phân bổ quyền sở hữu trong công ty, bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tổ chức, sở hữu cá nhân, và sở hữu nước ngoài. Mỗi loại hình sở hữu có ảnh hưởng khác nhau đến chất lượng lợi nhuận.

III. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp định lượng để phân tích dữ liệu từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2000-2019. Các mô hình hồi quy được sử dụng để đo lường điều chỉnh lợi nhuận và đánh giá ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu.

3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện qua hai bước: đo lường điều chỉnh lợi nhuận bằng các mô hình hồi quy và phân tích ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu bằng hồi quy đa biến.

3.2 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mẫu nghiên cứu bao gồm các công ty có đủ dữ liệu trong giai đoạn 2000-2019.

IV. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cấu trúc sở hữu có ảnh hưởng đáng kể đến điều chỉnh lợi nhuận. Cụ thể, sở hữu nhà nước và sở hữu tổ chức có xu hướng giảm thiểu điều chỉnh lợi nhuận, trong khi sở hữu cá nhân và sở hữu nước ngoài có thể làm tăng điều chỉnh lợi nhuận.

4.1 Ảnh hưởng của sở hữu nhà nước

Sở hữu nhà nước có tác động tích cực đến chất lượng lợi nhuận, giảm thiểu điều chỉnh lợi nhuận do sự giám sát chặt chẽ từ các cơ quan quản lý.

4.2 Ảnh hưởng của sở hữu tổ chức

Sở hữu tổ chức cũng có tác động tích cực, giúp giảm điều chỉnh lợi nhuận nhờ vào khả năng giám sát và kiểm soát hiệu quả.

V. Khuyến nghị và kết luận

Luận án đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến chất lượng lợi nhuận, cải thiện công bố thông tin, và lựa chọn cấu trúc sở hữu phù hợp để hạn chế điều chỉnh lợi nhuận.

5.1 Khuyến nghị chính sách

Các cơ quan quản lý nên tăng cường giám sát và yêu cầu công bố thông tin minh bạch hơn để giảm thiểu điều chỉnh lợi nhuận.

5.2 Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ tập trung vào các công ty phi tài chính niêm yết, do đó kết quả có thể không đại diện cho toàn bộ thị trường chứng khoán Việt Nam.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu tới đcln của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 sẽ được làm rõ một cách cụ thể hoá và chi tiết trong các chương tiếp theo. i 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN, CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN 2.1 Cơ sở lý luận về điều chỉnh lợi nhuận 2.1 Định nghĩa điều chỉnh lợi nhuận Lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng trong báo cáo tài chính, lợi nhuận khả quan thể hiện sự gia tăng giá trị của công ty và là một tín hiệu giúp phân bổ nguồn lực trong thị trường vốn. Các nhà đầu tư, cổ đông, khách hàng,… và các bên liên quan xây dựng niềm tin dựa trên các thông tin tài chính được công bố, các kỳ vọng trong tương lai phụ thuộc vào giá trị hiện tại của thu nhập, bởi vậy các chủ sở hữu, những người quản lý doanh nghiệp tất yếu quan tâm tới cách mà lợi nhuận được báo cáo, trong đó bao gồm sự điều chỉnh lợi nhuận. Sự hiểu biết về điều chỉnh lợi nhuận được hoàn thiện dần theo tiến trình thời gian thông qua các bằng chứng thực nghiệm trong các nghiên cứu, do đó, nhiều tác giả đã đưa ra cách hiểu về sự điều chỉnh lợi nhuận và có thể giữa các định nghĩa chưa hẳn có sự đồng thuận tuyệt đối.

Sau đây tác giả trích dẫn một số định nghĩa phổ biến về điều chỉnh lợi nhuận: “Điều chỉnh lợi nhuận là quy trình thực hiện các bước có chủ ý trong các ràng buộc của các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung để mang lại mức thu nhập được báo cáo mong muốn” (Davidson, Stickney và Weil, 1987, được trích dẫn trong Schipper, 1989, trang 92 và Beneish, 2001, trang 4) Trong những năm 1970 và đầu những năm 1980, các nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận tập trung vào lựa chọn kế toán (accounting choice), kể từ giữa những năm 1980 tập trung vào khoản dồn tích (accurals) (Beneish, 2001). Định nghĩa của Davidson và cộng sự (1987) không đề cập đến điều chỉnh lợi nhuận bằng các hành động quản lý giúp đạt được mức lợi nhuận mong muốn thông qua các quyết định điều hành. “Điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp có mục đích trong quy trình báo cáo tài chính bên ngoài, với mục đích thu được một số lợi ích cá nhân (trái ngược với quan điểm cho rằng, chỉ đơn thuần là tạo điều kiện cho hoạt động trung lập của quy trình)”. “Một phần mở rộng nhỏ của định nghĩa này sẽ bao gồm điều chỉnh lợi nhuận thực tế, được thực hiện bằng các quyết định đầu tư hoặc quyết định tài chính i 8 đúng lúc để thay đổi báo cáo thu nhập hoặc một số tập hợp con của nó.

" (Schipper, 1989, trang 92) So với định nghĩa của Davidson và cộng sự (1987) thì trong định nghĩa của mình, Schipper (1989) đã mở rộng thêm cách thức điều chỉnh lợi nhuận thực tế đạt được thông qua các quyết định điều hành về đầu tư hoặc tài chính. “Điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng phán đoán trong báo cáo tài chính và trong cấu trúc các giao dịch để thay đổi báo cáo tài chính nhằm đánh lạc hướng một số bên liên quan về hiệu quả kinh tế cơ bản của công ty hoặc ảnh hưởng đến kết quả của các hợp đồng mà phụ thuộc vào số liệu kế toán được báo cáo” (Healy và Wahlen, 1999, trang 368) Theo Healy và Wahlen (1999), có nhiều cách để nhà quản lý có thể thực hiện phán đoán trong báo cáo tài chính như ước tính các sự kiện kinh tế trong tương lai như giá trị còn lại của tài sản dài hạn, nghĩa vụ trợ cấp hưu trí, thuế hoãn lại, tổn thất từ nợ xấu và sự suy giảm tài sản; lựa chọn các phương pháp kế toán như phương pháp khấu hao đường thẳng hay khấu hao nhanh, phương pháp tính giá hàng tồn kho LIFO, FIFO hay bình quân; thực hiện các quyết định trong quản lý vốn lưu động như mức tồn kho, thời gian giao hàng hoặc mua hàng tồn kho, các chính sách thu tiền,… tác động tới sự phân bổ chi phí và doanh thu; ngoài ra, nhà quản lý phải lựa chọn giữa duy trì chi phí hay cắt giảm chi phí như chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí quảng cáo hoặc bảo trì. Bên cạnh đó, nhà quản lý quyết định cấu trúc các giao dịch chẳng hạn như đầu tư vốn cổ phần được thiết lập sao cho để tránh hoặc yêu cầu hợp nhất. Như vậy, Healy và Wahlen (1999) đã đề cập đa dạng hơn về cách thức điều chỉnh lợi nhuận.

Các định nghĩa nêu trên nhấn mạnh mục đích tiêu cực của điều chỉnh lợi nhuận, hành động của nhà quản lý được cho là có chủ ý vì lợi ích cá nhân và làm cho các bên liên quan hiểu sai lệch về thông tin được báo cáo. Tuy nhiên, một số tác giả khác (Beneish 2001, Fields và cộng sự 2001, Arya và cộng sự 2003) lại cho rằng điều chỉnh lợi nhuận cũng có mặt tích cực: Beneish (2001) cho rằng: “Có hai khía cạnh về điều chỉnh lợi nhuận: khía cạnh cơ hội, các nhà quản lý tìm cách đánh lừa nhà đầu tư và khía cạnh thông tin, theo đó, các nhà quản lý tiết lộ cho các nhà đầu tư những kỳ vọng cá nhân của họ về dòng tiền tương lai của công ty” (Beneish, 2001, trang 5). Beneish (2001) phân biệt giữa điều chỉnh lợi nhuận cơ hội (để đánh lừa nhà đầu tư) và điều chỉnh lợi nhuận thông tin (để mô tả một hình ảnh tốt cho các cổ đông về hiệu suất của công ty. Sự khác biệt như vậy có thể phản ánh rằng quản lý thu nhập không luôn luôn là một hành vi xấu.

Fields và cộng sự (2001) áp dụng định nghĩa của Watt và Zimmerman (1990) cho rằng “Điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý thực hiện ý muốn của họ i 9 thông qua số liệu kế toán một cách có hoặc không có giới hạn. Ý muốn này có thể làm gia tăng giá trị doanh nghiệp hoặc hành vi cơ hội” (Fields và cộng sự, 2001, trang 260) Arya, A. (2003) cho rằng: “Nghiên cứu y học chỉ ra rằng cholesterol không chỉ là một nhân vật phản diện làm cứng động mạch; nó phục vụ một chức năng sinh lý phức tạp và thiết yếu trong cơ thể chúng ta. Tương tự như vậy, nghiên cứu kế toán cho thấy rằng điều chỉnh lợi nhuận không phải là một điều xấu không được thừa nhận; trong giới hạn, nó thúc đẩy các quyết định hiệu quả.” … “Điều chỉnh lợi nhuận làm giảm tính minh bạch là một ý nghĩ đơn giản.

Một tính năng cơ bản của các tổ chức phi tập trung là phân tán thông tin giữa mọi người. Những người khác nhau biết những điều khác nhau và không ai biết tất cả mọi thứ. Trong một môi trường như vậy, luồng thu nhập được quản lý có thể truyền tải nhiều thông tin hơn luồng thu nhập không được quản lý…” (Arya, A., và Sunder, S, 2003, trang 111) Định nghĩa về điều chỉnh lợi nhuận không nhất quán trong các tài liệu học thuật, một số yếu tố trùng khớp và có thể tìm thấy trong phần lớn các định nghĩa, tuy nhiên, một số yếu tố trong đó là khác nhau. Định nghĩa gần đây hơn của Callao và cộng sự (2014) kết hợp nhiều yếu tố được đề cập bởi các nhà nghiên cứu trước đây, Callao và cộng sự (2014) nhấn mạnh các yếu tố phổ biến được tìm thấy trong nhiều định nghĩa gồm: + Hành động có mục đích của các nhà quản lý, chỉ ra hoạt động có chủ ý và có ý thức của các nhà quản lý (theo định nghĩa của Schipper, 1989); + Xử lý các khía cạnh bên ngoài của dữ liệu, luôn liên quan đến dữ liệu báo cáo của các công ty (Healy và Wahlen, 1999); + Thao túng dữ liệu tài chính của công ty (định nghĩa GAAP); + Theo đuổi mục đích đạt được mục tiêu cụ thể của người quản lý (Park và Shin, 2004); + Sử dụng tính linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp kế toán, tính chủ quan của người quản lý bằng cách chọn các chỉ tiêu hữu ích để đạt được kết quả theo kế hoạch và lựa chọn trong khả năng của các chuẩn mực (Fields và các cộng sự, 2001); + Bản chất sai lệch của thông tin, vì thông tin được trình bày có thể để che giấu hoặc thậm chí giả mạo một số thông tin (Roychowdhury, 2006).

Từ các yếu tố phổ biến được tìm thấy trong nhiều định nghĩa trên, Callao và cộng sự (2014) đã đưa ra định nghĩa sau: “Điều chỉnh lợi nhuận là một can thiệp có mục đích trong báo cáo tài chính, được thiết kế để đạt được mục tiêu thu nhập bằng cách thay đổi thực hành kế toán. i 10 Tuy nhiên, đó là một hành động diễn ra mà không nhất thiết vi phạm các quy định kế toán, và đó là tận dụng các khả năng của sự lựa chọn chính sách kế toán. Hành động này có thể đánh lừa các bên liên quan, khiến họ đưa ra quyết định trên cơ sở báo cáo tài chính mà họ đã không thể làm theo cách khác được” (Callao và cộng sự, 2014, trang 137) 2.2 Phân loại điều chỉnh lợi nhuận 2.1 Điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích (AEM – Accural earnings management) Theo nguyên tắc của kế toán cơ sở tiền (cash basic), doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm thực thu hoặc thực chi tiền thanh toán, tuy có lợi thế đơn giản, dễ sử dụng và cho số liệu chính xác số tiền đang nắm giữ nhưng kế toán cơ sở tiền không hẳn hiệu quả vì nó đặt ra các vấn đề liên quan đến việc đo lường hiệu quả của các công ty khi các công ty hoạt động liên tục. Chuẩn mực kế toán qui định nguyên tắc ghi chép kế toán trên cơ sở dồn tích, theo đó, doanh thu và chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền.

Trong quá trình áp dụng nguyên tắc, kế toán cơ sở dồn tích có thể tạo ra cơ hội cho các nhà quản lý khai thác để điều chỉnh lợi nhuận. Theo nguyên tắc thì doanh thu và chi phí được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, nếu thời điểm này được trì hoãn hay tịnh tiến có chủ ý thì có thể làm dịch chuyển thu nhập giữa các thời kỳ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến chất lượng lợi nhuận công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam" khám phá mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết. Nghiên cứu chỉ ra rằng cấu trúc sở hữu có thể tác động mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động và sự minh bạch trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Điều này không chỉ giúp các nhà đầu tư hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức quản lý và phát triển bền vững trong môi trường kinh doanh hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ hoàn thiện chính sách cổ tức tại các công ty xây dựng niêm yết ở Việt Nam, nơi phân tích chính sách cổ tức và ảnh hưởng của nó đến giá trị công ty. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ kinh tế ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giúp bạn nắm bắt được các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn trong ngành xây dựng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến cấu trúc sở hữu và hiệu quả kinh doanh.