chương 1 sẽ được làm rõ một cách cụ thể hoá và chi tiết trong các chương tiếp theo. i 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN, CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN 2.1 Cơ sở lý luận về điều chỉnh lợi nhuận 2.1 Định nghĩa điều chỉnh lợi nhuận Lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng trong báo cáo tài chính, lợi nhuận khả quan thể hiện sự gia tăng giá trị của công ty và là một tín hiệu giúp phân bổ nguồn lực trong thị trường vốn. Các nhà đầu tư, cổ đông, khách hàng,… và các bên liên quan xây dựng niềm tin dựa trên các thông tin tài chính được công bố, các kỳ vọng trong tương lai phụ thuộc vào giá trị hiện tại của thu nhập, bởi vậy các chủ sở hữu, những người quản lý doanh nghiệp tất yếu quan tâm tới cách mà lợi nhuận được báo cáo, trong đó bao gồm sự điều chỉnh lợi nhuận. Sự hiểu biết về điều chỉnh lợi nhuận được hoàn thiện dần theo tiến trình thời gian thông qua các bằng chứng thực nghiệm trong các nghiên cứu, do đó, nhiều tác giả đã đưa ra cách hiểu về sự điều chỉnh lợi nhuận và có thể giữa các định nghĩa chưa hẳn có sự đồng thuận tuyệt đối.
Sau đây tác giả trích dẫn một số định nghĩa phổ biến về điều chỉnh lợi nhuận: “Điều chỉnh lợi nhuận là quy trình thực hiện các bước có chủ ý trong các ràng buộc của các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung để mang lại mức thu nhập được báo cáo mong muốn” (Davidson, Stickney và Weil, 1987, được trích dẫn trong Schipper, 1989, trang 92 và Beneish, 2001, trang 4) Trong những năm 1970 và đầu những năm 1980, các nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận tập trung vào lựa chọn kế toán (accounting choice), kể từ giữa những năm 1980 tập trung vào khoản dồn tích (accurals) (Beneish, 2001). Định nghĩa của Davidson và cộng sự (1987) không đề cập đến điều chỉnh lợi nhuận bằng các hành động quản lý giúp đạt được mức lợi nhuận mong muốn thông qua các quyết định điều hành. “Điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp có mục đích trong quy trình báo cáo tài chính bên ngoài, với mục đích thu được một số lợi ích cá nhân (trái ngược với quan điểm cho rằng, chỉ đơn thuần là tạo điều kiện cho hoạt động trung lập của quy trình)”. “Một phần mở rộng nhỏ của định nghĩa này sẽ bao gồm điều chỉnh lợi nhuận thực tế, được thực hiện bằng các quyết định đầu tư hoặc quyết định tài chính i 8 đúng lúc để thay đổi báo cáo thu nhập hoặc một số tập hợp con của nó.
" (Schipper, 1989, trang 92) So với định nghĩa của Davidson và cộng sự (1987) thì trong định nghĩa của mình, Schipper (1989) đã mở rộng thêm cách thức điều chỉnh lợi nhuận thực tế đạt được thông qua các quyết định điều hành về đầu tư hoặc tài chính. “Điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng phán đoán trong báo cáo tài chính và trong cấu trúc các giao dịch để thay đổi báo cáo tài chính nhằm đánh lạc hướng một số bên liên quan về hiệu quả kinh tế cơ bản của công ty hoặc ảnh hưởng đến kết quả của các hợp đồng mà phụ thuộc vào số liệu kế toán được báo cáo” (Healy và Wahlen, 1999, trang 368) Theo Healy và Wahlen (1999), có nhiều cách để nhà quản lý có thể thực hiện phán đoán trong báo cáo tài chính như ước tính các sự kiện kinh tế trong tương lai như giá trị còn lại của tài sản dài hạn, nghĩa vụ trợ cấp hưu trí, thuế hoãn lại, tổn thất từ nợ xấu và sự suy giảm tài sản; lựa chọn các phương pháp kế toán như phương pháp khấu hao đường thẳng hay khấu hao nhanh, phương pháp tính giá hàng tồn kho LIFO, FIFO hay bình quân; thực hiện các quyết định trong quản lý vốn lưu động như mức tồn kho, thời gian giao hàng hoặc mua hàng tồn kho, các chính sách thu tiền,… tác động tới sự phân bổ chi phí và doanh thu; ngoài ra, nhà quản lý phải lựa chọn giữa duy trì chi phí hay cắt giảm chi phí như chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí quảng cáo hoặc bảo trì. Bên cạnh đó, nhà quản lý quyết định cấu trúc các giao dịch chẳng hạn như đầu tư vốn cổ phần được thiết lập sao cho để tránh hoặc yêu cầu hợp nhất. Như vậy, Healy và Wahlen (1999) đã đề cập đa dạng hơn về cách thức điều chỉnh lợi nhuận.
Các định nghĩa nêu trên nhấn mạnh mục đích tiêu cực của điều chỉnh lợi nhuận, hành động của nhà quản lý được cho là có chủ ý vì lợi ích cá nhân và làm cho các bên liên quan hiểu sai lệch về thông tin được báo cáo. Tuy nhiên, một số tác giả khác (Beneish 2001, Fields và cộng sự 2001, Arya và cộng sự 2003) lại cho rằng điều chỉnh lợi nhuận cũng có mặt tích cực: Beneish (2001) cho rằng: “Có hai khía cạnh về điều chỉnh lợi nhuận: khía cạnh cơ hội, các nhà quản lý tìm cách đánh lừa nhà đầu tư và khía cạnh thông tin, theo đó, các nhà quản lý tiết lộ cho các nhà đầu tư những kỳ vọng cá nhân của họ về dòng tiền tương lai của công ty” (Beneish, 2001, trang 5). Beneish (2001) phân biệt giữa điều chỉnh lợi nhuận cơ hội (để đánh lừa nhà đầu tư) và điều chỉnh lợi nhuận thông tin (để mô tả một hình ảnh tốt cho các cổ đông về hiệu suất của công ty. Sự khác biệt như vậy có thể phản ánh rằng quản lý thu nhập không luôn luôn là một hành vi xấu.
Fields và cộng sự (2001) áp dụng định nghĩa của Watt và Zimmerman (1990) cho rằng “Điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý thực hiện ý muốn của họ i 9 thông qua số liệu kế toán một cách có hoặc không có giới hạn. Ý muốn này có thể làm gia tăng giá trị doanh nghiệp hoặc hành vi cơ hội” (Fields và cộng sự, 2001, trang 260) Arya, A. (2003) cho rằng: “Nghiên cứu y học chỉ ra rằng cholesterol không chỉ là một nhân vật phản diện làm cứng động mạch; nó phục vụ một chức năng sinh lý phức tạp và thiết yếu trong cơ thể chúng ta. Tương tự như vậy, nghiên cứu kế toán cho thấy rằng điều chỉnh lợi nhuận không phải là một điều xấu không được thừa nhận; trong giới hạn, nó thúc đẩy các quyết định hiệu quả.” … “Điều chỉnh lợi nhuận làm giảm tính minh bạch là một ý nghĩ đơn giản.
Một tính năng cơ bản của các tổ chức phi tập trung là phân tán thông tin giữa mọi người. Những người khác nhau biết những điều khác nhau và không ai biết tất cả mọi thứ. Trong một môi trường như vậy, luồng thu nhập được quản lý có thể truyền tải nhiều thông tin hơn luồng thu nhập không được quản lý…” (Arya, A., và Sunder, S, 2003, trang 111) Định nghĩa về điều chỉnh lợi nhuận không nhất quán trong các tài liệu học thuật, một số yếu tố trùng khớp và có thể tìm thấy trong phần lớn các định nghĩa, tuy nhiên, một số yếu tố trong đó là khác nhau. Định nghĩa gần đây hơn của Callao và cộng sự (2014) kết hợp nhiều yếu tố được đề cập bởi các nhà nghiên cứu trước đây, Callao và cộng sự (2014) nhấn mạnh các yếu tố phổ biến được tìm thấy trong nhiều định nghĩa gồm: + Hành động có mục đích của các nhà quản lý, chỉ ra hoạt động có chủ ý và có ý thức của các nhà quản lý (theo định nghĩa của Schipper, 1989); + Xử lý các khía cạnh bên ngoài của dữ liệu, luôn liên quan đến dữ liệu báo cáo của các công ty (Healy và Wahlen, 1999); + Thao túng dữ liệu tài chính của công ty (định nghĩa GAAP); + Theo đuổi mục đích đạt được mục tiêu cụ thể của người quản lý (Park và Shin, 2004); + Sử dụng tính linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp kế toán, tính chủ quan của người quản lý bằng cách chọn các chỉ tiêu hữu ích để đạt được kết quả theo kế hoạch và lựa chọn trong khả năng của các chuẩn mực (Fields và các cộng sự, 2001); + Bản chất sai lệch của thông tin, vì thông tin được trình bày có thể để che giấu hoặc thậm chí giả mạo một số thông tin (Roychowdhury, 2006).
Từ các yếu tố phổ biến được tìm thấy trong nhiều định nghĩa trên, Callao và cộng sự (2014) đã đưa ra định nghĩa sau: “Điều chỉnh lợi nhuận là một can thiệp có mục đích trong báo cáo tài chính, được thiết kế để đạt được mục tiêu thu nhập bằng cách thay đổi thực hành kế toán. i 10 Tuy nhiên, đó là một hành động diễn ra mà không nhất thiết vi phạm các quy định kế toán, và đó là tận dụng các khả năng của sự lựa chọn chính sách kế toán. Hành động này có thể đánh lừa các bên liên quan, khiến họ đưa ra quyết định trên cơ sở báo cáo tài chính mà họ đã không thể làm theo cách khác được” (Callao và cộng sự, 2014, trang 137) 2.2 Phân loại điều chỉnh lợi nhuận 2.1 Điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích (AEM – Accural earnings management) Theo nguyên tắc của kế toán cơ sở tiền (cash basic), doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm thực thu hoặc thực chi tiền thanh toán, tuy có lợi thế đơn giản, dễ sử dụng và cho số liệu chính xác số tiền đang nắm giữ nhưng kế toán cơ sở tiền không hẳn hiệu quả vì nó đặt ra các vấn đề liên quan đến việc đo lường hiệu quả của các công ty khi các công ty hoạt động liên tục. Chuẩn mực kế toán qui định nguyên tắc ghi chép kế toán trên cơ sở dồn tích, theo đó, doanh thu và chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền.
Trong quá trình áp dụng nguyên tắc, kế toán cơ sở dồn tích có thể tạo ra cơ hội cho các nhà quản lý khai thác để điều chỉnh lợi nhuận. Theo nguyên tắc thì doanh thu và chi phí được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, nếu thời điểm này được trì hoãn hay tịnh tiến có chủ ý thì có thể làm dịch chuyển thu nhập giữa các thời kỳ.