CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu: 1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Có thể nói, từ những năm cuối thế kỷ 20 đến nay, cụm từ “Corporate governance” (được phần lớn các học giả chuyển ngữ với danh gọi là quản trị công ty6) được xem như là một thuật ngữ phổ quát, có tính liên ngành, trở thành một trong những xu hướng nghiên cứu quan trọng trong cả lĩnh vực kinh tế và luật học, nhất là từ sau các sự kiện khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, sự sụp đổ của Enron, Worldcom, Parmalat và đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Vậy quản trị công ty (QTCT) là gì và vì sao nó có tầm quan trọng như vậy ? Có nhiều cách tiếp cận khác nhau bởi nhiều công trình nghiên cứu khác nhau. Tương ứng với mỗi cách tiếp cận, thuật ngữ “corporate governance” được định nghĩa với nhiều nội hàm khác nhau và nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Ở mức độ phổ quát, mang tính liên ngành và được nhiều quốc gia sử dụng đó là cách tiếp cận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
Theo đó, OECD cho rằng QTCT là hệ thống mà thông qua đó công ty được chỉ đạo và kiểm soát. Chất lượng QTCT ảnh hưởng đến chi phí của công ty khi tiếp cận vốn cho mục tiêu tăng trưởng và niềm tin của người cấp vốn - trực tiếp hoặc gián tiếp - rằng họ có thể tham gia và chia sẻ việc tạo ra giá trị với công ty một cách công bằng 7. Đúc kết từ kinh nghiệm thực tế QTCT của các nước thành viên, năm 1999, OECD đưa ra Bộ nguyên tắc QTCT và chúng trở thành tài liệu tham chiếu chuẩn quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, DN và các bên có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới. Bộ nguyên tắc QTCT năm 1999 đưa ra năm nhóm nguyên tắc cơ bản: (1) Quyền của CĐ; (2) Đối xử công bằng với CĐ; (3) Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan; (4) Công khai và minh bạch; (5) Trách nhiệm của Hội đồng quản trị (HĐQT).
Trong phần thứ hai của tài liệu cũng bổ sung thêm các chú thích có chứa bình luận về các nguyên tắc nhằm giúp độc giả hiểu được lý do tồn tại của chúng. Các chú thích đưa ra các mô tả về xu hướng chiếm ưu thế và các lựa chọn 6 Tổ chức tài chính quốc tế & Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (2010), Cẩm nang quản trị công ty, Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr. 6; Ngân hàng thế giới (2006), Đánh giá tình hình quản trị công ty của Việt Nam, Báo cáo về tình hình tuân thủ các chuẩn mực và nguyên tắc (ROSC) quản trị công ty, tr.iii; Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên Khảo Luật kinh tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 7 OECD (2015), G20/0ECD, Principles of Corporate Governance, OECD Publishing, Paris, tr.
https://documents-downloader.dev/document 19/231 11:35, 16/01/2023 Documents Downloader 10 thay thế, cũng như những ví dụ hữu ích trong việc xây dựng các nguyên tắc. Đến năm 2004, OECD lại đưa ra Bộ nguyên tắc về QTCT mới trên cơ sở kế thừa và củng cố những giá trị cốt lõi của Bộ nguyên tắc QTCT năm 1999, cũng như kinh nghiệm giải quyết các vấn đề trong QTCT của các nước trong và ngoài khu vực OECD. Theo đó, Bộ nguyên tắc QTCT năm 2004 được tiếp tục xây dựng trên nền tảng của tính minh bạch cao, tính giải trình và trách nhiệm giám sát của HĐQT, sự tôn trọng quyền của CĐ và vai trò của các bên tham gia khác. Cụ thể Bộ nguyên tắc này bao gồm sáu nhóm nguyên tắc sau: (1) Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ QTCT hiệu quả; (2) Quyền của CĐ và các chức năng sở hữu cơ bản; (3) Đối xử bình đẳng đối với CĐ; (4) Vai trò của các bên có quyền và lợi ích liên quan trong QTCT; (5) công bố thông tin và tính minh bạch; (6) Trách nhiệm của HĐQT.
Đến năm 2015, trên cơ sở phân tích dữ liệu thực tế về xu hướng tài chính mới, bao gồm cả những bài học về QTCT được rút ra từ các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, từ sự gia tăng sở hữu xuyên quốc gia, những thay đổi trong cách vận hành của thị trường chứng khoán và những tác động của chuỗi giá trị trong đầu tư dài hạn hơn và phức tạp hơn từ tiết kiệm của các hộ gia đình đến hoạt động đầu tư của DN, OECD xây dựng và hoàn thiện bộ nguyên tắc QTCT nhằm hướng dẫn thực tiễn áp dụng những nguyên tắc này ở cấp Quốc gia. Theo đó bộ nguyên tắc G20/OECD gồm các nguyên tắc sau: (1) Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ QTCT hiệu quả; (2) Quyền của CĐ, đối xử công bằng với CĐ và các chức năng sở hữu cơ bản; (3) Các nhà đầu tư tổ chức, thị trường chứng khoán và các tổ chức trung gian khác; (4) Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong QTCT; (5) Công bố thông tin và tính minh bạch; và (6) Trách nhiệm của HĐQT. Tuy nhiên, Bộ nguyên tắc cũng không mang tính bắt buộc và không nhằm đưa ra những quy định chi tiết của luật pháp quốc gia. Vì OECD cũng xác định rằng không có mô hình QTCT tốt duy nhất cho mọi quốc gia 8.
Ngoài công trình có tầm ảnh hưởng quốc tế, trở thành chuẩn mực cho việc xây dựng hệ thống QTCT của đa số quốc gia nói trên thì trên thế giới cũng tồn tại một số công trình nghiên cứu tầm cỡ về QTCT dưới nhiều giác độ riêng rẽ khác nhau. Những công trình nghiên cứu này tập trung nghiên cứu theo hướng sau: (1) mối quan hệ giữa QTCT với hiệu quả hoạt động của công ty; (2) mối quan hệ giữa quy mô và thành phần HĐQT với hiệu quả hoạt động của công ty; (3) nguồn gốc pháp lý và mức độ bảo vệ nhà đầu tư; (4) cơ cấu sở hữu và QTCT; (5) cơ cấu sở hữu và vấn đề cố thủ 8 OECD (2015), tlđd, tr. https://documents-downloader.dev/document 20/231 11:35, 16/01/2023 Documents Downloader 11 của người quản lý; (6) vấn đề sở hữu của người quản lý và hiệu quả hoạt động của công ty; (7) bảo vệ cổ đông thiểu số; (8) kiểm soát giao dịch có nguy cơ tư lợi. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và bao quát về mô hình điều chỉnh pháp luật QTCT cổ phần của các nước có hàm lượng khoa học cao, bao gồm cả các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về đặc điểm hệ thống QTCTĐC của các nước, phải kể đến là những công trình tiêu biểu sau: Thứ nhất, công trình “Corporate governance: A synthesis of theory, research and practice” (tạm dịch là “QTCT: Lý thuyết, nghiên cứu và thực hành”) do H.Kent Baker và Ronald Aderson chủ biên, được John Wiley & Sons, Inc xuất bản năm 2010.
Nội dung của công trình này mô tả lịch sử QTCT, cũng như hệ thống QTCT của các nước trên thế giới, nghiên cứu mối quan hệ giữa QTCT và hiệu quả kinh doanh của công ty; những vấn đề phát sinh khi tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý; nhấn mạnh đến vai trò của lý thuyết đại diện và các cách tiếp cận khác về vấn đề QTCT. Theo đó: QTCT và hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ thuận. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ nhiều yếu tố, bao gồm cả sự thất bại của các cơ chế điều chỉnh thị trường và vấn đề QTCT không hiệu quả. Mục tiêu tương lai của cải cách QTCT nên tập trung cải cách hệ thống pháp luật nhằm tạo ra một thị trường sôi động mà ở đó các công ty có thể lựa chọn mô hình quản trị tối đa hóa giá trị.
Lý thuyết QTCT phải được hiểu trong bối cảnh định hình nên các mục tiêu quy phạm và các giả định quy phạm cơ bản của nó. Các thông lệ quản trị tốt nhất hiện tại cũng có những sai sót nhất định khi áp dụng cho những quốc gia có các bối cảnh phát triển khác nhau. Quyền sở hữu cổ phần (CP) của người quản lý ảnh hưởng tới hành vi quản lý, điều hành công ty. Trong đó, quyền sở hữu CP của các thành viên HĐQT có mối tương quan thuận với đo lường kế toán của kết quả hoạt động kinh doanh.
Tóm lại, công trình này nghiên cứu sâu về hầu hết các khía cạnh của QTCT một cách hệ thống. Thứ hai, công trình “Corporate Governance: priciples, policies and practices” (tạm dịch là “QTCT: nguyên tắc, chính sách và thực hành” ) của Bob Tricker được Oxfoxd University Press tái bản lần thứ ba năm 2015. Nội dung của công trình này trình bày, phân tích những tình huống thực hành các nguyên tắc QTCT. Từ đó đi đến https://documents-downloader.dev/document 21/231 11:35, 16/01/2023 Documents Downloader 12 phân tích và đánh giá các mô hình lý thuyết về QTCT của các nước; đưa ra những đánh giá, dự báo về tương lai của QTCT.
Theo đó: Lịch sử, văn hóa và chính trị tác động đến mô hình QTCT ở các nước nhưng xu thế hội tụ là chủ yếu dù rằng thực hành chúng có một số nét khác biệt. Tương lai của QTCT phải hướng đến hiệu quả hoạt động, thực hiện được trách nhiệm giải trình và trách nhiệm xã hội một cách thỏa đáng. Nhìn chung, tác giả đã có sự phân tích tương đối đầy đủ thực tiễn QTCT ở các nước trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và lý thuyết về QTCT. Thứ ba là công trình “New Corporate governance - Successful Board Management Tools” (tạm dịch là QTCT kiểu mới - công cụ điều hành Hội đồng thành công) của Martin Hilb được tái bản lần thứ năm vào năm 2016, do Springer, Verlag Berlin Heidelberg xuất bản.
Trong công trình này, Martin Hilb đã đưa ra một phương thức QTCT kiểu mới mà ông gọi là mô hình glocal. Theo đó, HĐQT công ty không những hướng tới mối quan tâm của cổ đông mà còn hướng tới lợi ích của các bên hữu quan; hệ thống QTCT không chỉ đảm bảo tính đặc trưng của quốc gia mà còn đảm bảo tính toàn cầu. Tuy nhiên, công trình này chưa phân tích thấy rõ được tính hệ thống, tính phụ thuộc lẫn nhau của các thành phần của QTCT. Thứ tư, Báo cáo nghiên cứu “Corporate governance: Improving Competitiveness and Access to Capital in Global Markets” (tạm dịch là “QTCT: nâng cao khả năng cạnh tranh và tiếp cận thị trường vốn toàn cầu”) của Ira M.
Millstein, Michel Albert, Sir Adian Cadbury, Robert E. Danham, Dieter Feddersen và Nobuo Tateusi gửi cho OECD năm 1998. Nội dung của nghiên cứu này thừa nhận QTCT minh bạch là chìa khóa tiếp cận thị trường vốn toàn cầu. Hoạt động QTCT sẽ tiếp tục khác biệt ở từng quốc gia và từng nền văn hóa.