Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ khoa học giáo dục "Bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Huyền thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thuộc chuyên ngành Giáo dục Mầm non (mã số: 9.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Như Mai và TS. Đinh Văn Vang.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non đặt ra những yêu cầu đặc thù về mặt tâm lý và hành vi nghề nghiệp. Giáo viên mầm non làm việc với trẻ dưới 6 tuổi – lứa tuổi phát triển nhanh chóng nhưng nhận thức, ngôn ngữ và khả năng tự phục vụ còn non nớt, tính hiếu động cao và dễ gặp nguy cơ mất an toàn. Cường độ làm việc của giáo viên kéo dài liên tục, bình quân từ 9 đến 10 tiếng mỗi ngày, vượt qua khuôn khổ giờ làm việc hành chính thông thường. Đồng thời, giáo viên phải xử lý các mối quan hệ giao tiếp đa dạng, nhạy cảm với trẻ em, cha mẹ trẻ, đồng nghiệp và cán bộ quản lý.

Trong bối cảnh triển khai Chương trình nghị sự của Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững 2030 (mục tiêu 4.2 đảm bảo trẻ em tiếp cận giáo dục mầm non có chất lượng) cùng các văn bản chính sách quốc gia như Đề án Phát triển toàn diện trẻ em và Đề án Phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2016–2025, yêu cầu về năng lực nghề nghiệp của nhà giáo mầm non ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, thực tế vẫn ghi nhận những trường hợp giáo viên vi phạm đạo đức nhà giáo, ngược đãi hoặc bạo hành trẻ xuất phát từ áp lực công việc và sự thiếu hụt khả năng kiểm soát cảm xúc bản thân.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Mặc dù trí tuệ cảm xúc (TTCX) đã được khẳng định có thể cải thiện qua rèn luyện, các công trình nghiên cứu và chương trình bồi dưỡng TTCX tại Việt Nam thời gian qua chủ yếu tập trung vào giáo viên tiểu học, giáo viên trung học cơ sở, cán bộ lãnh đạo hoặc sinh viên đại học. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên biệt về việc bồi dưỡng TTCX trong hoạt động nghề nghiệp (HĐNN) cho đội ngũ giáo viên mầm non.

Mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên mầm non, luận án đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng TTCX trong HĐNN cho giáo viên mầm non, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em.
  • Giả thuyết khoa học: TTCX của giáo viên mầm non còn nhiều hạn chế, nhất là các năng lực hiểu, kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc; điều đó do nhiều nguyên nhân, trong đó các biện pháp bồi dưỡng TTCX cho giáo viên mầm non chưa phù hợp là nguyên nhân cơ bản. Nếu xây dựng được các biện pháp bồi dưỡng TTCX tác động trực tiếp đến nhận thức, kĩ năng phân tích, kiểm soát và bộc lộ cảm xúc, giúp giáo viên giải tỏa áp lực, kiểm soát tốt cảm xúc của bản thân và người khác, có hành vi phù hợp với chuẩn mực văn hóa, đạo đức nghề nghiệp thì TTCX trong HĐNN của giáo viên mầm non sẽ được nâng cao.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan và nghiên cứu lý luận về bồi dưỡng TTCX trong HĐNN cho giáo viên mầm non.
    2. Đánh giá thực trạng bồi dưỡng TTCX trong HĐNN cho giáo viên mầm non và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này.
    3. Xây dựng các biện pháp bồi dưỡng TTCX trong HĐNN cho giáo viên mầm non và tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm khẳng định hiệu quả, tính khả thi của các biện pháp đã xây dựng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp bồi dưỡng TTCX trong HĐNN cho giáo viên mầm non.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình bồi dưỡng TTCX trong HĐNN cho giáo viên mầm non.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu TTCX của giáo viên mầm non trong các mối quan hệ tương tác nghề nghiệp (với trẻ em, đồng nghiệp và phụ huynh) trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ; từ đó xây dựng các biện pháp bồi dưỡng tương ứng.
  • Phạm vi không gian và khách thể khảo sát:
    • Khảo sát thực trạng: Tiến hành trên 410 giáo viên mầm non tại Thành phố Hà Nội, phân bổ ở 04 quận nội thành (Cầu Giấy, Bắc Từ Liêm, Đống Đa, Hai Bà Trưng) và 02 huyện ngoại thành (Ba Vì, Ứng Hòa). Khảo sát bổ sung mức độ thoải mái và sự tham gia trên 60 trẻ mầm non.
    • Địa bàn và khách thể thực nghiệm sư phạm: Thực hiện trên 80 giáo viên mầm non tại Hà Nội (gồm 40 giáo viên trường mầm non công lập và 40 giáo viên trường mầm non ngoài công lập).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc

Tổng quan lịch sử nghiên cứu cho thấy các khía cạnh ngoài nhận thức đã được chú ý từ đầu thế kỷ XX:

  • Giai đoạn khởi xướng: Edward Thorndike (1920) nêu khái niệm "trí tuệ xã hội" nhằm mô tả khả năng hiểu và quản lý con người. Robert Thorndike và Saul Stern (1937) phân tích các nỗ lực đo lường hành vi xã hội. David Wechsler (1940) đề cập đến các yếu tố phi nhận thức (tình cảm, nhân cách, xã hội) trong cấu trúc trí tuệ chung. R.W. Leeper (1948) phát triển khái niệm tư duy cảm xúc, coi đây là một thành phần của tư duy logic. Albert Ellis (1955) xây dựng liệu pháp tâm lý giúp cá nhân kiểm soát cảm xúc có ý thức.
  • Hướng tiếp cận theo mô hình đa trí tuệ: Howard Gardner (1983) trong công trình Frames of Mind đưa ra Thuyết Đa trí tuệ, trong đó xác định hai dạng trí khôn liên quan trực tiếp đến cảm xúc: Trí tuệ về bản thân (Intrapersonal Intelligence) và Trí tuệ về người khác (Interpersonal Intelligence). Robert Sternberg (1986) phát triển lý thuyết "Trí tuệ thành công" (Successful Intelligence) với ba khả năng cốt lõi: phân tích, sáng tạo và thực tế.
  • Hướng tiếp cận theo mô hình hỗn hợp: Reuven Bar-On (1985) đặt ra thuật ngữ chỉ số cảm xúc EQ trong luận án tiến sĩ, xây dựng bộ công cụ EQ-i và mô hình Well-being, coi TTCX là tổ hợp các năng lực phi nhận thức giúp cá nhân ứng phó với sức ép môi trường. Daniel Goleman (1995) phổ biến hóa thuật ngữ với các thành tố: tự kiềm chế, nhiệt tình, kiên trì và tự thúc đẩy bản thân. K.V. Petrides và Adrian Furnham đưa ra mô hình đặc điểm với 4 nhân tố và 15 khía cạnh biểu hiện.
  • Hướng tiếp cận theo mô hình thuần năng lực: John Mayer và Peter Salovey (1990, 1997) định nghĩa TTCX là năng lực nhận biết, biểu đạt cảm xúc, hòa cảm xúc vào tư duy, hiểu và điều chỉnh cảm xúc của bản thân và người khác. Mô hình EI 97 và bộ công cụ trắc nghiệm MSCEIT (Mayer - Salovey - Caruso Emotional Intelligence Test, 2002) được giới học thuật thừa nhận rộng rãi là phản ánh đúng bản chất năng lực của trí tuệ.

Tại Việt Nam, vấn đề TTCX bắt đầu được thảo luận từ xêmina năm 1997 thuộc Chương trình khoa học cấp nhà nước KX-07 do GS. Phạm Minh Hạc chủ nhiệm. Các nhà tâm lý học như Lê Đức Phúc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh đã tiếp cận và triển khai nghiên cứu. Nguyễn Huy Tú (2000, 2003) công bố các bài viết về bản chất, phương pháp chẩn đoán và vai trò của TTCX trong quản lý. Đề tài cấp Nhà nước KX 05-06 do GS. Trần Kiều chủ nhiệm đã tiến hành thích ứng bộ công cụ MSCEIT trên 3.741 học sinh, sinh viên và lao động trẻ. Kế thừa bộ công cụ này, nhiều luận án tiến sĩ được thực hiện: Nguyễn Minh Anh (2008) nghiên cứu trẻ mẫu giáo lớn tại Nga và Việt Nam; Nguyễn Thị Dung (2008) nghiên cứu giáo viên chủ nhiệm THCS; Dương Thị Hoàng Yến (2010) nghiên cứu giáo viên tiểu học; Phan Trọng Nam (2012) nghiên cứu sinh viên đại học; Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012) nghiên cứu cán bộ cấp cơ sở.

Các hướng nghiên cứu về bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc

Luận án phân loại các nghiên cứu về bồi dưỡng TTCX thành ba hướng chính:

  1. Bồi dưỡng theo mô hình thuần năng lực: D. Caruso và cộng sự xây dựng quy trình 4 giai đoạn gắn liền với 4 nhánh năng lực: Nhận thức chính xác cảm xúc; Sử dụng cảm xúc đẩy mạnh tư duy; Hiểu rõ nguyên nhân và sự phát triển của cảm xúc; Kiểm soát cảm xúc để đạt kết luận logic.
  2. Bồi dưỡng dựa vào kĩ năng giao tiếp xã hội: Điển hình là Chương trình SEL (Social Emotional Learning) của M.J. Elias, J.E. Zins và cộng sự (1997), dựa trên thuyết học tập xã hội của Albert Bandura, mô hình phát triển xã hội của J.D. Hawkins và J.G. Weis, phát triển các nhóm năng lực ý thức bản thân, thái độ tích cực, quyết định trách nhiệm, kĩ năng giao tiếp và kĩ năng xã hội. Tiêu biểu có chương trình PATHS của M.T. Greenberg (2006). Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung (2008) và Đào Thị Oanh (2010) áp dụng hướng này cho học sinh và giáo viên THCS.
  3. Bồi dưỡng theo hướng trải nghiệm, kiểm soát cảm xúc tiêu cực và phát triển cảm xúc tích cực: Tiêu biểu là phương pháp tiếp cận RULER của S.E. Rivers (2013); nghiên cứu can thiệp 11 tuần của P. Qualter (2012); chương trình 5 tuần của D.H. Saklofske, A.W. Nordstokke và A.K. Vesely (2014); các nghiên cứu của A. Erozkan (2013); chương trình của Hiệp hội Quản lý Hoa Kỳ (AMA), Đại học Sydney; chương trình đào tạo giáo viên của N. Dolev và S. Leshem (2016) tại Israel. Tại Việt Nam, Lê Thị Thanh Huyền (2019) nghiên cứu kĩ năng kiểm soát cảm xúc của giáo viên mầm non tại TP. Hồ Chí Minh; Lê Thị Mỹ Dung (2019) biên soạn tài liệu bồi dưỡng thăng hạng chức danh nghề nghiệp cho giáo viên mầm non.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu khẳng định: TTCX là cấu trúc có thể can thiệp bồi dưỡng được thông qua các hoạt động trải nghiệm thực tiễn. Tuy nhiên, các nghiên cứu can thiệp bồi dưỡng tại Việt Nam chưa đề cập đến giáo viên mầm non một cách chuyên biệt. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách: xác định khung lý luận về cấu trúc TTCX trong hoạt động nghề nghiệp đặc thù của giáo viên mầm non, đánh giá thực trạng trên diện rộng, và thiết kế hệ thống biện pháp bồi dưỡng mang tính thực hành, trải nghiệm nhằm nâng cao năng lực kiểm soát cảm xúc tiêu cực và phát triển cảm xúc tích cực trong môi trường giáo dục mầm non.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Khái niệm trí tuệ: Tác giả tiếp cận trí tuệ theo quan điểm của D. Wechsler và R. Sternberg, định nghĩa trí tuệ là năng lực tổng thể của cá nhân để hành động có mục đích, suy nghĩ hợp lý, ứng phó hiệu quả với môi trường hoặc sáng tạo ra cái mới nhằm cải biến môi trường.
  • Khái niệm cảm xúc: Được xác định là quá trình tâm lý phản ứng lại các kích thích tác động vào chủ thể bằng những sắc thái rung động, phản ánh sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu, sự phù hợp hay không phù hợp của các tương tác, hoàn cảnh với mong muốn, niềm tin và thói quen của chủ thể.
  • Khái niệm trí tuệ cảm xúc: Luận án sử dụng định nghĩa của J. Mayer và P. Salovey (1997): TTCX là năng lực nhận biết và bày tỏ cảm xúc, hòa cảm xúc vào suy nghĩ để hiểu, suy luận về cảm xúc và để kiểm soát, điều chỉnh cảm xúc của mình và của người khác.
  • Khái niệm TTCX trong HĐNN của giáo viên mầm non: Là năng lực phản ánh bằng cảm xúc các kích thích có ý nghĩa nảy sinh trong HĐNN của giáo viên; bao gồm năng lực nhận biết, sử dụng, hiểu và kiểm soát, điều chỉnh những cảm xúc của bản thân, của trẻ, đồng nghiệp và phụ huynh nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ.
Nhóm năng lực cốt lõi Biểu hiện cụ thể trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non
1. Nhận biết, đánh giá và biểu lộ cảm xúc - Nhận biết cảm xúc bản thân qua trạng thái thể chất (nhịp tim, sắc diện), cảm giác và suy nghĩ trong quá trình chăm sóc trẻ.
- Nhận biết cảm xúc của trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh qua ngữ điệu, âm lượng giọng nói, nét mặt, ánh mắt và cử chỉ hành vi.
- Thể hiện chính xác, phù hợp các trạng thái cảm xúc trong các tình huống sư phạm.
2. Sử dụng cảm xúc để thúc đẩy tư duy - Huy động các trạng thái cảm xúc tích cực để hỗ trợ giải quyết vấn đề sư phạm.
- Tạo sự đồng cảm, thiết lập bầu không khí tâm lý tin cậy giữa cô và trẻ, giữa giáo viên với đồng nghiệp và phụ huynh.
- Vận dụng cảm xúc để khơi gợi hứng thú, tính tích cực tham gia hoạt động của trẻ.
3. Hiểu và phân tích cảm xúc - Nhận diện đúng nguyên nhân dẫn đến các phản ứng cảm xúc ở trẻ và người lớn.
- Hiểu được quy luật chuyển hóa, sự kết hợp giữa các trạng thái cảm xúc phức tạp.
- Dự đoán chiều hướng phát triển của cảm xúc và ảnh hưởng của nó đến hành vi ứng xử tiếp theo.
4. Kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc - Làm chủ cảm xúc bản thân, kiềm chế xung đột, bực bội và các phản ứng tiêu cực khi chịu áp lực công việc.
- Hóa giải cảm xúc tiêu cực thành trạng thái cân bằng; kích hoạt cảm xúc tích cực cho bản thân và tập thể lớp.
- Điều chỉnh hành vi giao tiếp phù hợp với chuẩn mực đạo đức sư phạm trong mọi tình huống.

Các cách tiếp cận nghiên cứu

Luận án vận dụng 4 cách tiếp cận phương pháp luận:

  1. Tiếp cận phát triển: Xem xét TTCX là thuộc tính tâm lý luôn biến đổi, có khả năng hình thành và phát triển thông qua rèn luyện, bồi dưỡng trong môi trường nghề nghiệp.
  2. Tiếp cận hoạt động: Đặt TTCX vào chính cấu trúc HĐNN của giáo viên mầm non; năng lực cảm xúc được bộc lộ và hoàn thiện thông qua các hoạt động chăm sóc, giáo dục thực tế.
  3. Tiếp cận hệ thống: Thiết kế quá trình bồi dưỡng theo trình tự logic, từ nhận thức đến trải nghiệm thực hành, từ mức độ đơn giản đến phức tạp, đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành tố.
  4. Tiếp cận phức hợp, liên ngành: Kết hợp thành tựu của tâm lý học, giáo dục học mầm non, xã hội học và văn hóa học trong việc phân tích nhân cách nhà giáo và hành vi cảm xúc.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước; so sánh các xu hướng lý thuyết về TTCX.
  • Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đánh giá của các nhà khoa học, chuyên gia quản lý giáo dục mầm non về cấu trúc năng lực và tính khả thi của hệ thống biện pháp bồi dưỡng.
  • Phương pháp trắc nghiệm:
    • Sử dụng trắc nghiệm MSCEIT-97 (được thích ứng và chuẩn hóa tại Việt Nam trong đề tài KX 05-06) để đo nghiệm các chỉ số thành phần TTCX.
    • Sử dụng hệ thống 25 bài tập tình huống sư phạm (BTTH) do tác giả xây dựng để đo năng lực giải quyết tình huống nghề nghiệp liên quan đến cảm xúc của giáo viên trước và sau can thiệp.
    • Đánh giá mức độ thoải mái và tham gia của trẻ mầm non thông qua thang đo Leuven (do Tổ chức Hợp tác Phát triển và Hỗ trợ Kỹ thuật vùng Flander, Bỉ - VVOB phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định, ban hành).
  • Phương pháp điều tra bảng hỏi: Thực hiện khảo sát diện rộng trên 410 giáo viên mầm non tại Hà Nội nhằm thu thập dữ liệu về biểu hiện TTCX, thực trạng công tác bồi dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng.
  • Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát hành vi, ngôn ngữ, nét mặt và cách ứng xử của giáo viên trong các hoạt động đón trẻ, tổ chức chơi, dạy học, tổ chức ăn ngủ; ghi nhận biểu hiện của trẻ.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ quản lý và giáo viên mầm non nhằm làm rõ nguyên nhân của các phản ứng cảm xúc và thực trạng tổ chức bồi dưỡng tại cơ sở.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Phân tích sâu một số cá nhân giáo viên có mức độ TTCX khác nhau để theo dõi sự biến đổi hành vi qua quá trình bồi dưỡng.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm tác động có đối chứng trên 80 giáo viên (40 nhóm thực nghiệm, 40 nhóm đối chứng) tại 2 trường mầm non (công lập và ngoài công lập) nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Nhập liệu và phân tích thống kê toán học bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 (tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định sai khác, phân tích tương quan).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non

Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận nền tảng:

  • Đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên mầm non: Tác giả chỉ rõ HĐNN của giáo viên mầm non là dạng lao động đặc thù mang tính tổng hòa: vừa là người mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc thể chất; vừa là người thầy tổ chức hoạt động giáo dục phát triển nhân cách; vừa là người bạn cùng chơi, cùng hòa nhập vào thế giới cảm xúc của trẻ thơ. Thời gian làm việc liên tục, kéo dài trung bình 10 tiếng mỗi ngày, tạo áp lực thể lực và thần kinh rất lớn.
  • Phương tiện và môi trường lao động: Phương tiện lao động chủ yếu không chỉ là kiến thức chuyên môn mà là chính nhân cách, xúc cảm tình cảm yêu thương trẻ, ngôn ngữ sư phạm truyền cảm và sự mẫu mực về hành vi. Môi trường trường mầm non mang tính chất giao thoa giữa môi trường gia đình và môi trường sư phạm, đòi hỏi mức độ nhạy cảm xã hội và khả năng làm chủ bản thân cao.
  • Nhiệm vụ và chuẩn nghề nghiệp: Dẫn xuất từ Điều lệ trường mầm non (Thông tư 52/2020/TT-BGDĐT) và Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non (Thông tư 26/2018/TT-BGDĐT), tác giả khẳng định việc điều chỉnh cảm xúc là tiêu chuẩn quan trọng để xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, không bạo lực.
  • Lý luận về bồi dưỡng TTCX: Luận án làm rõ khái niệm bồi dưỡng TTCX trong HĐNN là quá trình tổ chức có mục đích, có kế hoạch các tác động sư phạm nhằm giúp giáo viên nâng cao nhận thức, hình thành và rèn luyện kĩ năng nhận biết, sử dụng, hiểu và kiểm soát cảm xúc. Tác giả xác định nội dung bồi dưỡng phải bao phủ 4 năng lực thành phần, sử dụng các phương pháp tương tác (phân tích tình huống, đóng vai, trải nghiệm, tự đánh giá) qua nhiều hình thức (tập huấn tập trung, sinh hoạt tổ chuyên môn, tự học) theo quy trình logic khép kín.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Phân tích hệ thống các yếu tố chủ quan (nhận thức, kinh nghiệm, sức khỏe, nhu cầu tự hoàn thiện của giáo viên) và yếu tố khách quan (áp lực sĩ số trẻ, cơ sở vật chất, cơ chế chính sách, sự hỗ trợ từ cán bộ quản lý, bầu không khí tâm lý tập thể, thái độ của cha mẹ trẻ).

Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non

Chương 2 trình bày toàn bộ kết quả khảo sát định lượng và định tính trên địa bàn Hà Nội:

  • Mức độ TTCX của giáo viên mầm non: Kết quả đo nghiệm qua thang trắc nghiệm MSCEIT-97 và thang đo 25 bài tập tình huống sư phạm cho thấy TTCX của giáo viên mầm non đạt mức trung bình. Điểm thành phần giữa các nhánh năng lực có sự chênh lệch rõ rệt: năng lực nhận biết cảm xúc đạt điểm cao nhất; ngược lại, các năng lực hiểu, sử dụng và đặc biệt là kiểm soát, điều chỉnh cảm xúc còn bộc lộ nhiều hạn chế.
  • Phân tích tương quan theo các biến nhân khẩu học:
    • Theo thâm niên công tác: Giáo viên có thâm niên công tác từ 5 đến 15 năm thể hiện mức độ nhận biết và ứng xử tình huống sư phạm vững vàng hơn nhóm mới ra trường dưới 3 năm; tuy nhiên, nhóm thâm niên cao cũng đối diện với hiện tượng căng thẳng cảm xúc kéo dài.
    • Theo trình độ đào tạo: Tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm giáo viên có trình độ đại học so với nhóm trung cấp/cao đẳng ở năng lực phân tích và hiểu nguyên nhân cảm xúc.
    • Theo loại hình trường: Giáo viên trường ngoài công lập chịu nhiều áp lực cạnh tranh và yêu cầu từ phụ huynh hơn, dẫn đến mức độ lo âu cao hơn; trong khi giáo viên công lập chịu áp lực về sĩ số lớp đông và hồ sơ sổ sách chuyên môn.
  • Thực trạng năng lực nhận biết và giải tỏa cảm xúc: Đa số giáo viên nhận diện tốt các cảm xúc tích cực (vui tươi, yêu mến) nhưng gặp khó khăn trong việc nhận diện sớm các dấu hiệu căng thẳng nội tại trước khi bộc phát thành hành vi cáu gắt. Các biện pháp giải tỏa cảm xúc tiêu cực giáo viên thường dùng mang tính tự phát (im lặng, chia sẻ với đồng nghiệp thân thiết), thiếu các kỹ thuật tự điều tiết mang tính bài bản, chuyên nghiệp.
  • Thực trạng công tác bồi dưỡng tại cơ sở: Các nội dung bồi dưỡng thường xuyên của ngành hiện nay chủ yếu tập trung vào phương pháp giảng dạy, đổi mới chương trình chăm sóc giáo dục, làm đồ dùng đồ chơi hoặc ứng dụng công nghệ thông tin. Nội dung bồi dưỡng TTCX, kĩ năng quản lý cảm xúc bản thân chưa được đưa vào kế hoạch định kỳ thành một chuyên đề độc lập; phương pháp tổ chức còn nặng về truyền đạt lý thuyết, thiếu các hoạt động thực hành, trải nghiệm tình huống sư phạm.
  • Mức độ thoải mái và sự tham gia của trẻ: Khảo sát bằng thang Leuven trên 60 trẻ ghi nhận mối tương quan thuận: ở những lớp học nơi giáo viên có kỹ năng làm chủ cảm xúc tốt, giao tiếp dịu dàng, trẻ thể hiện mức độ cảm giác an toàn, thoải mái và tham gia tích cực vào các hoạt động học tập, vui chơi cao hơn rõ rệt so với các lớp giáo viên thường xuyên căng thẳng, quát mắng.

Chương 3: Biện pháp bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non

Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng và khung lý luận, chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp và kiểm chứng thực nghiệm:

  • Các nguyên tắc chỉ đạo:
    1. Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với quy luật phát triển cảm xúc của con người: Các tác động bồi dưỡng phải tôn trọng diễn biến tâm sinh lý và cơ chế hình thành hành vi cảm xúc.
    2. Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện: Tác động đồng bộ đến cả nhận thức, thái độ và hành vi thực tiễn, bao quát đầy đủ 4 năng lực nhánh của TTCX.
    3. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển: Kế thừa kinh nghiệm nghề nghiệp sẵn có của giáo viên, cập nhật các kỹ thuật điều tiết cảm xúc hiện đại.
    4. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi: Nội dung bồi dưỡng gắn chặt với các tình huống nghề nghiệp điển hình, phù hợp với quỹ thời gian và điều kiện thực tế của trường mầm non.
  • Hệ thống 3 nhóm biện pháp bồi dưỡng:
    • Nhóm 1: Các biện pháp chuẩn bị bồi dưỡng: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của TTCX trong HĐNN; tổ chức đánh giá, chẩn đoán mức độ TTCX ban đầu của giáo viên để phân loại nhu cầu; xây dựng kế hoạch, biên soạn tài liệu tập huấn chuyên đề gắn với tình huống thực tiễn.
    • Nhóm 2: Các biện pháp thực hiện bồi dưỡng: Tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng nhận biết và gọi tên cảm xúc qua biểu cảm nét mặt, ngôn ngữ cơ thể; huấn luyện kỹ thuật làm chủ và chuyển hóa cảm xúc tiêu cực (hít thở sâu, tự đối thoại tích cực, tái định khung nhận thức); tổ chức phân tích, đóng vai và xử lý 25 bài tập tình huống sư phạm mẫu; lồng ghép rèn luyện kĩ năng giao tiếp cảm xúc trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, hội thi giáo viên dạy giỏi; xây dựng môi trường tâm lý xã hội nhà trường thân thiện, hợp tác.
    • Nhóm 3: Các biện pháp đánh giá và duy trì bồi dưỡng: Tổ chức đánh giá định kỳ sự tiến bộ của giáo viên qua quan sát thực tế và phản hồi từ phụ huynh; khuyến khích giáo viên thiết lập nhật ký cảm xúc cá nhân để tự soi chiếu; tư vấn, hỗ trợ tâm lý kịp thời cho giáo viên gặp khủng hoảng cảm xúc; duy trì mạng lưới hỗ trợ đồng nghiệp trong trường học.
  • Mối quan hệ giữa các biện pháp: Ba nhóm biện pháp có mối quan hệ biện chứng, đan xen và bổ trợ lẫn nhau, tạo thành quy trình can thiệp khép kín từ khâu chuẩn bị tâm thế đến hành động thực tiễn và duy trì kết quả.
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm:
    • Thực nghiệm được tiến hành trên 80 giáo viên (40 thuộc nhóm thực nghiệm - TN, 40 thuộc nhóm đối chứng - ĐC) tại trường mầm non công lập và ngoài công lập tại Hà Nội.
    • Trước thực nghiệm: Điểm trung bình TTCX đo qua 25 bài tập tình huống giữa hai nhóm TN và ĐC không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (mức độ tương đương nhau).
    • Sau thực nghiệm: Nhóm TN sau khi tham gia chương trình bồi dưỡng theo hệ thống biện pháp đề xuất đạt mức tăng điểm trung bình TTCX vượt trội ở tất cả các năng lực thành phần (nhận biết, hiểu, sử dụng và kiểm soát cảm xúc) so với nhóm ĐC (nhóm chỉ sinh hoạt chuyên môn bình thường).
    • Kết quả đo thang Leuven trên trẻ do nhóm TN phụ trách cũng ghi nhận sự cải thiện đáng kể về chỉ số thoải mái tâm lý và mức độ tập trung tham gia hoạt động, khẳng định tính hiệu quả và khả thi của hệ thống biện pháp can thiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các khuynh hướng nghiên cứu về TTCX và bồi dưỡng TTCX trên thế giới và tại Việt Nam; khẳng định tính ưu việt của mô hình thuần năng lực (Mayer - Salovey) khi ứng dụng vào môi trường giáo dục.
  2. Xây dựng và chuẩn hóa khái niệm "Trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non"; xác định rõ mô hình cấu trúc gồm 4 nhóm năng lực cốt lõi (nhận biết, sử dụng, hiểu, kiểm soát/điều chỉnh) gắn với 3 trục quan hệ giao tiếp đặc thù của giáo viên mầm non: tương tác với trẻ em, tương tác với đồng nghiệp và tương tác với cha mẹ trẻ.
  3. Làm phong phú lý luận về phát triển chuyên môn nghề nghiệp cho giáo viên mầm non; xác định khung nguyên tắc, nội dung, hình thức, phương pháp và quy trình bồi dưỡng năng lực cảm xúc như một bộ phận hữu cơ cấu thành năng lực sư phạm.
  4. Nhận diện và phân tích hệ thống các yếu tố ảnh hưởng mang tính đặc thù đến sự nảy sinh, biểu đạt và điều chỉnh cảm xúc của người giáo viên mầm non dưới góc độ tâm lý học và giáo dục học.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, khách quan về mức độ TTCX và thực trạng công tác bồi dưỡng TTCX của giáo viên mầm non trên địa bàn Thủ đô Hà Nội (đại diện cho cả khu vực nội thành và ngoại thành, trường công lập và trường ngoài công lập).
  2. Xây dựng và chuẩn hóa bộ công cụ đánh giá năng lực TTCX thực hành dành riêng cho giáo viên mầm non, bao gồm hệ thống 25 bài tập tình huống sư phạm điển hình có thang chấm điểm chi tiết.
  3. Thiết kế hệ thống các biện pháp bồi dưỡng TTCX hoàn chỉnh, đồng bộ (từ khâu chuẩn bị, triển khai thực hiện đến đánh giá kết quả) có khả năng ứng dụng trực tiếp vào công tác bồi dưỡng thường xuyên tại các trường mầm non và đổi mới nội dung rèn luyện nghiệp vụ sư phạm tại các cơ sở đào tạo giáo viên.
  4. Kết quả thực nghiệm sư phạm đã chứng minh tính hiệu quả và khả thi của các biện pháp đề xuất trong việc nâng cao chỉ số TTCX của giáo viên và gián tiếp tác động tích cực đến mức độ thoải mái, gắn kết của trẻ mầm non.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cần bổ sung tiêu chí cụ thể về năng lực quản lý cảm xúc vào Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non; đưa chuyên đề "Bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp" thành nội dung bắt buộc trong chương trình bồi dưỡng thường xuyên hàng năm; rà soát giảm tải áp lực sổ sách hành chính cho giáo viên mầm non.
  • Đối với các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non (Đại học, Cao đẳng Sư phạm): Đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tích hợp học phần phát triển trí tuệ cảm xúc và kỹ năng giải tỏa căng thẳng vào khối kiến thức tâm lý - giáo dục học; tăng cường các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm qua bài tập tình huống thực tế.
  • Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng quản trị cảm xúc chuyên sâu cho cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán; thường xuyên kiểm tra, tạo điều kiện thuận lợi về môi trường tâm lý cho nhà giáo tại các cơ sở giáo dục mầm non, đặc biệt là khối ngoài công lập.
  • Đối với Ban Giám hiệu các trường mầm non: Thiết lập môi trường làm việc dân chủ, an toàn, hỗ trợ lẫn nhau; chú trọng khâu tư vấn tâm lý học đường cho giáo viên; trang bị không gian thư giãn và điều chỉnh định mức lao động hợp lý nhằm hạn chế quá tải cảm xúc.
  • Đối với bản thân giáo viên mầm non: Nâng cao ý thức tự học, tự rèn luyện; chủ động nhận diện trạng thái cảm xúc của bản thân; áp dụng thường xuyên các kỹ thuật giải tỏa căng thẳng và thiết lập nhật ký cảm xúc để tự điều chỉnh hành vi sư phạm hàng ngày.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  1. Phạm vi địa bàn khảo sát: Nghiên cứu khảo sát thực trạng mới chỉ giới hạn trên địa bàn Thành phố Hà Nội (tập trung tại 4 quận nội thành và 2 huyện ngoại thành). Do đặc thù phân vùng địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội, kết quả khảo sát chưa bao quát được toàn diện bối cảnh giáo dục mầm non ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa hoặc các vùng kinh tế trọng điểm khác trên cả nước.
  2. Dung lượng mẫu thực nghiệm: Khách thể thực nghiệm sư phạm trực tiếp được triển khai trên 80 giáo viên (40 nhóm thực nghiệm, 40 nhóm đối chứng) tại 2 trường mầm non. Đây là quy mô phù hợp cho nghiên cứu can thiệp sâu cấp luận án tiến sĩ nhưng cần được kiểm chứng trên diện rộng hơn trước khi nhân rộng thành chính sách phổ quát.
  3. Đo lường tác động gián tiếp trên trẻ: Mẫu khảo sát tác động về mức độ cảm giác thoải mái và sự tham gia mới tiến hành trên 60 trẻ mầm non. Khoảng thời gian theo dõi thực nghiệm chưa đủ dài để đánh giá toàn diện các chuyển biến lâu dài về mặt phát triển nhân cách của trẻ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  1. Mở rộng địa bàn nghiên cứu khảo sát và thử nghiệm can thiệp bồi dưỡng TTCX cho giáo viên mầm non tại các địa phương có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù (khu vực nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, Tây Nguyên).
  2. Tiến hành các nghiên cứu dọc (longitudinal studies) để theo dõi độ bền vững của các kỹ năng TTCX sau can thiệp bồi dưỡng, cũng như đo lường tác động nhiều năm của phong cách điều tiết cảm xúc của giáo viên đối với sự phát triển tâm lý của trẻ ở các giai đoạn giáo dục tiếp theo.
  3. Nghiên cứu sâu hơn về các kỹ thuật điều tiết cảm xúc chuyên biệt cho giáo viên mầm non trực tiếp chăm sóc các nhóm trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt (trẻ tự kỷ, trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, trẻ khuyết tật hòa nhập) – nhóm đối tượng tạo ra những thách thức cảm xúc rất lớn trong hoạt động nghề nghiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với cán bộ quản lý giáo dục: Giúp các nhà hoạch định chính sách tại Vụ Giáo dục Mầm non, Sở và Phòng Giáo dục và Đào tạo, cũng như Ban Giám hiệu các trường mầm non nhận diện rõ tầm quan trọng của yếu tố cảm xúc trong lao động sư phạm; từ đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng định kỳ, thiết kế môi trường làm việc thân thiện và ban hành quy chế ứng xử văn hóa học đường phù hợp.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo sư phạm: Cung cấp tài liệu tham khảo giảng dạy cho các học phần Giáo dục học mầm non, Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm; là căn cứ thực tiễn để biên soạn giáo trình chuyên đề phát triển năng lực cảm xúc và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Luận án cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về TTCX theo mô hình thuần năng lực áp dụng trong khoa học giáo dục; quy trình thích ứng công cụ MSCEIT và hệ thống bài tập tình huống sư phạm có thể được kế thừa làm phương pháp luận cho các đề tài nghiên cứu liên quan đến nhân cách nhà giáo.
  • Đối với giáo viên mầm non: Là cẩm nang nghề nghiệp giúp mỗi giáo viên tự soi chiếu, nhận diện rõ những biến đổi cảm xúc của bản thân và của trẻ trong quá trình chăm sóc giáo dục hàng ngày; cung cấp các kỹ thuật cụ thể để làm chủ hành vi, chuyển hóa áp lực công việc thành năng lượng tích cực, góp phần phòng ngừa các vi phạm đạo đức sư phạm.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận khái niệm trí tuệ cảm xúc theo mô hình nào và cấu trúc gồm những năng lực gì?

Luận án tiếp cận TTCX theo mô hình thuần năng lực (ability model) của J. Mayer và P. Salovey (1997). Theo mô hình này, TTCX trong HĐNN của giáo viên mầm non được cấu thành bởi 4 nhóm năng lực cốt lõi có mối quan hệ tương hỗ:

  • Năng lực nhận biết, đánh giá và biểu lộ cảm xúc;
  • Năng lực sử dụng cảm xúc để thúc đẩy hoạt động tư duy;
  • Năng lực hiểu và phân tích cảm xúc;
  • Năng lực kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc của bản thân và của người khác trong hoạt động nghề nghiệp.

2. Bộ công cụ và mẫu khảo sát thực trạng trong luận án được tổ chức như thế nào?

Khảo sát thực trạng được thực hiện trên mẫu 410 giáo viên mầm non đang công tác tại 04 quận nội thành (Cầu Giấy, Bắc Từ Liêm, Đống Đa, Hai Bà Trưng) và 02 huyện ngoại thành (Ba Vì, Ứng Hòa) của Thành phố Hà Nội. Bộ công cụ khảo sát bao gồm:

  • Thang trắc nghiệm MSCEIT-97 (phiên bản thích ứng tại Việt Nam qua đề tài KX 05-06);
  • Hệ thống 25 bài tập tình huống sư phạm (BTTH) liên quan đến ứng xử cảm xúc;
  • Bảng hỏi điều tra thực trạng bồi dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng;
  • Thang đo Leuven dùng để đo lường mức độ thoải mái và tham gia trên 60 trẻ mầm non; kết hợp với các kỹ thuật phỏng vấn sâu và quan sát sư phạm.

3. Những đặc điểm lao động nào của nghề giáo viên mầm non tạo nên áp lực cảm xúc cao?

Hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non mang các đặc thù tạo ra căng thẳng cảm xúc lớn:

  • Đối tượng chăm sóc là trẻ em dưới 6 tuổi, non nớt, hiếu động, chưa tự chủ hành vi và tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn;
  • Thời gian làm việc kéo dài liên tục, bình quân 10 tiếng mỗi ngày, vượt định mức giờ hành chính;
  • Giáo viên cùng lúc phải đóng ba vai trò: người mẹ chăm sóc, người thầy giáo dục và người bạn cùng chơi;
  • Phải duy trì mạng lưới giao tiếp phức tạp, nhạy cảm với cha mẹ trẻ và đồng nghiệp trong điều kiện sĩ số lớp học thường đông đúc.

4. Hệ thống biện pháp bồi dưỡng do luận án đề xuất gồm những nhóm nào?

Luận án đề xuất hệ thống biện pháp bồi dưỡng toàn diện được chia làm 3 nhóm chính:

  • Nhóm chuẩn bị: Nâng cao nhận thức, khảo sát chẩn đoán mức độ TTCX đầu vào của giáo viên, xây dựng kế hoạch và nội dung tập huấn chuyên biệt.
  • Nhóm thực hiện: Huấn luyện kỹ năng nhận diện cảm xúc, thực hành kỹ thuật làm chủ và chuyển hóa cảm xúc tiêu cực, phân tích xử lý bài tập tình huống, lồng ghép vào sinh hoạt chuyên môn và xây dựng bầu không khí tâm lý lành mạnh tại trường.
  • Nhóm đánh giá và duy trì: Đánh giá sự tiến bộ định kỳ, hướng dẫn ghi chép nhật ký cảm xúc cá nhân, tư vấn hỗ trợ tâm lý và duy trì mạng lưới hỗ trợ đồng nghiệp.

5. Kết quả thực nghiệm sư phạm đã khẳng định điều gì?

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành trên 80 giáo viên (40 giáo viên nhóm thực nghiệm và 40 giáo viên nhóm đối chứng) tại 2 trường mầm non công lập và ngoài công lập tại Hà Nội. Kết quả xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 22.0 cho thấy: sau can thiệp, nhóm thực nghiệm có sự gia tăng điểm trung bình TTCX vượt trội ở cả 4 năng lực thành phần so với nhóm đối chứng (vốn không có sự khác biệt ở thời điểm trước thực nghiệm). Đồng thời, trẻ mầm non do nhóm giáo viên thực nghiệm chăm sóc có chỉ số thoải mái và tham gia hoạt động (đo theo thang Leuven) tăng lên rõ rệt, chứng minh tính hiệu quả và khả thi của hệ thống biện pháp can thiệp.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non" của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền là công trình nghiên cứu chuyên sâu, giải quyết thỏa đáng khoảng trống lý luận và thực tiễn về phát triển năng lực cảm xúc cho nhà giáo mầm non tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp luận chặt chẽ của mô hình thuần năng lực Mayer - Salovey với các kỹ thuật khảo sát diện rộng và thực nghiệm sư phạm có đối chứng, tác giả đã chứng minh vai trò quyết định của việc kiểm soát cảm xúc đối với chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ thơ. Hệ thống 3 nhóm biện pháp bồi dưỡng cùng bộ 25 bài tập tình huống sư phạm được luận án xây dựng là đóng góp thực tiễn có giá trị ứng dụng cao cho công tác đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ giáo viên mầm non trong giai đoạn hiện nay.