Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Giáo dục tính trách nhiệm dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non" thuộc chuyên ngành Giáo dục học (Giáo dục mầm non). Luận án được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn về việc hình thành phẩm chất trách nhiệm cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

Về tính cấp thiết, tính trách nhiệm (TTN) từ lâu đã được xác định là phẩm chất nhân cách cốt lõi của con người trong các nền văn hóa phương Đông lẫn phương Tây. Trong giáo dục hiện đại, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) xác định trách nhiệm là một trong 12 giá trị sống cơ bản của thế kỷ 21. Tại Việt Nam, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 quy định trách nhiệm là một trong năm phẩm chất nền tảng cần hình thành cho học sinh, đòi hỏi sự tiếp nối từ bậc học mầm non. Giai đoạn 5-6 tuổi là bước ngoặt chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp một—thời điểm nghĩa vụ học tập bắt buộc được xác lập. Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi năm 2010 với một số chỉ số liên quan đến sự bền bỉ, tính hợp tác và tự giác, nhưng các hoạt động giáo dục trách nhiệm tại trường mầm non thực tế vẫn diễn ra rời rạc, thiếu tính hệ thống. Giáo viên mầm non chủ yếu dựa vào thói quen và kinh nghiệm truyền thống, dễ dẫn đến các biện pháp áp đặt, mệnh lệnh, đặt quyền của giáo viên cao hơn quyền của trẻ. Do đó, khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng một khung lý luận và hệ thống biện pháp giáo dục TTN mang tính tích cực, tôn trọng trẻ em dựa trên cách tiếp cận Quyền trẻ em.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục TTN dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non, từ đó xây dựng và thực nghiệm các biện pháp sư phạm nhằm phát triển phẩm chất này cho trẻ.

Hai giả thuyết khoa học của đề tài bao gồm:

  1. Trẻ 5-6 tuổi có thể và cần phải thực hiện trách nhiệm với bản thân, với mọi người và với môi trường xung quanh, nhưng trong thực tế, TTN của trẻ còn hạn chế do nhiều nguyên nhân, trong đó có liên quan đến biện pháp giáo dục trẻ.
  2. Nếu xây dựng được các biện pháp giáo dục TTN cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tạo môi trường tôn trọng trẻ em thông qua việc tổ chức các hoạt động đa dạng, hấp dẫn, phù hợp với khả năng và đảm bảo thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của trẻ, đồng thời trao quyền cho trẻ, thì TTN của trẻ sẽ ngày càng tốt hơn.

Bốn nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giáo dục TTN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non dựa trên quyền trẻ em.
  2. Nghiên cứu thực trạng giáo dục TTN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non dựa trên quyền trẻ em.
  3. Đề xuất một số biện pháp giáo dục TTN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non dựa trên quyền trẻ em.
  4. Thực nghiệm các biện pháp giáo dục TTN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non dựa trên quyền trẻ em.

Khách thể nghiên cứu là quá trình giáo dục TTN dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non. Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp giáo dục TTN dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Về nội dung: Tập trung vào TTN của trẻ đối với bản thân, với mọi người (cha mẹ/người nuôi dưỡng, giáo viên, bạn bè) và với môi trường xung quanh (đồ vật, động vật, thực vật, không gian sống và học tập); khai thác ba hoạt động giáo dục nòng cốt lặp lại hàng ngày gồm hoạt động học, hoạt động chơi và hoạt động lao động.
  • Về khách thể khảo sát thực trạng: 135 trẻ 5-6 tuổi, 120 giáo viên mầm non và 135 phụ huynh tại thành phố Hà Nội và tỉnh Nam Định.
  • Về địa bàn và thời gian thực hiện:
    • Khảo sát thực trạng: Tiến hành từ ngày 15/5/2020 đến ngày 01/6/2020 tại ba trường: MN01, MN02 (Hà Nội) và MN05 (Nam Định).
    • Thực nghiệm thăm dò: Thực hiện từ ngày 01/6/2020 đến ngày 14/8/2020 tại trường MN01.
    • Thực nghiệm chính thức: Thực hiện từ ngày 17/8/2020 đến ngày 31/12/2020 tại cả ba trường MN01, MN02 và MN05.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hệ thống công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến trách nhiệm và giáo dục trách nhiệm theo các hướng tiếp cận chính:

Nghiên cứu về trách nhiệm và bản chất của tính trách nhiệm:

  • Trách nhiệm dưới góc độ phẩm chất đạo đức: Bắt đầu từ quan điểm đạo đức học cổ đại của Aristotle về lý thuyết sự tự nguyện (voluntary) và sự cân nhắc (deliberation). Tiếp đó, J. Gailey và cộng sự (1985) xem xét trách nhiệm theo kết quả và mục đích với 4 thuộc tính (tính nhân quả, kiến thức, mục đích, đạo đức); Max Weber xem xét khả năng điều chỉnh hành vi qua chuẩn mực mục đích và chuẩn mực trách nhiệm; Fernando Rudy Hiller (2019) phân tích hành vi đáng trách và sơ suất; A. Aleksandrov coi trách nhiệm là thành phần cốt lõi của đạo đức cùng với tính nhân văn và tận tâm với sự thật; Irwin Altman và Dalmas Taylor (1973) phát triển thuyết xâm nhập xã hội xếp trách nhiệm vào tầng giá trị của nhân cách; Diane Tillman và Diana Hsu (2009) lồng ghép giáo dục trách nhiệm trong chương trình giá trị sống toàn cầu do UNESCO bảo trợ.
  • Trách nhiệm dưới góc độ nghĩa vụ công dân và pháp lý: Kế thừa tư tưởng của J.J. Rousseau và I. Kant về quyền gắn liền với nghĩa vụ; tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần trách nhiệm của cán bộ và nhân dân; các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Trọng Chuẩn (2008), Trần Đức Cường (2008), Nguyễn Thị Lan Hương (2009), Vũ Tuấn Huy (2009), Trần Anh Phương (2010), Bùi Thị Ngọc Mai (2016). Về phân loại công dân, Joel Westheimer và Joseph Kahne (2004) xác định 3 mức độ công dân có trách nhiệm: trách nhiệm cá nhân, tham gia và định hướng công lý; Michael P. Mueller (2009, 2014) và Siddappa Naragatt nhấn mạnh tính đáng tin cậy, quản lý thời gian và trung thực với mục tiêu.

Nghiên cứu về cấu trúc và phân loại trách nhiệm ở trẻ em:

  • Cấu trúc: Các tác giả thống nhất cấu trúc 3 thành tố gồm nhận thức, thái độ và hành vi (Piaget, 1932; Hélène Hagège, 2017; Paulo Martins và cộng sự, 2017).
  • Phân loại: Phân loại theo đối tượng (con người và môi trường - Nguyễn Thị Lan Hương, 2009); theo phạm vi (cá nhân, gia đình, nhà trường, cộng đồng - Lê Thị Hoài Lan, 2018; Keri Power Pye); theo vai trò xã hội; theo thái độ (trách nhiệm chủ động và trách nhiệm thụ động). Riêng đối với trẻ em, M. Montessori phân chia thành: trách nhiệm với bản thân, trách nhiệm với người khác và trách nhiệm với môi trường.

Nghiên cứu về các lý thuyết hình thành và giáo dục tính trách nhiệm:

  • Cơ sở tâm lý: Thuyết phát triển nhận thức của J. Piaget; thuyết học tập xã hội của A. Bandura; thuyết phát triển đạo đức 3 cấp độ 6 giai đoạn của Lawrence Kohlberg; quan điểm triết học của John Locke.
  • Về lý luận giáo dục trách nhiệm: Jamal Abu Hussain và Smadar Gonen (2017) phân tích sự đối lập giữa Thuyết hành vi (B.F. Skinner - dựa trên kích thích, áp đặt khiến trẻ mất quyền tự do và trốn tránh trách nhiệm) và Thuyết nhân văn (Carl Rogers - nhấn mạnh ý chí tự do, tôn trọng và trao quyền). Về chiến lược giáo dục nhân cách, W. Huitt (2004) tổng hợp 4 cách tiếp cận. Trong lĩnh vực thể chất, Don Hellison (2011) xây dựng mô hình giáo dục trách nhiệm cá nhân và xã hội (TPSR) qua 5 cấp độ (từ cấp độ 0 đến cấp độ 5), sau đó được Kenioua Mouloud (2019) và Federico Carreres-Ponsoda cùng cộng sự (2021) kiểm chứng.

Nghiên cứu về giáo dục trách nhiệm dựa trên Quyền trẻ em:

  • Cơ sở xuất phát từ quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm của John Dewey và vùng phát triển gần nhất của L.S. Vygotsky. Sau khi Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em ra đời (1989), Diane Tillman và Diana Hsu (1997), Lori DuPont và cộng sự (1999) đã xây dựng các chương trình giáo dục giá trị sống và quyền công dân. Về mục tiêu, Tuyên bố Adelaide (Úc, 1999) nhấn mạnh việc ra quyết định sáng suốt và trách nhiệm sinh thái. Katherine Covell và R. Brian Howe (2001, 2007) thiết kế các bài học về quyền và trách nhiệm.
  • Về hình thức và phương pháp: Esra Dereli-Iman (2014) thực nghiệm hình thức giáo dục rõ ràng (Explicit Learning) qua 33 bài học trong 11 tuần; trong khi Ingibjorg Osk Sigurdardottir và cộng sự (2019) qua quan sát 68 hoạt động (9 giờ 17 phút) chỉ ra rằng giáo viên chủ yếu truyền tải giá trị theo hình thức tiềm ẩn (Implicit Learning). Về phương pháp trải nghiệm, Van Driel và cộng sự (2016) cùng Jamal Abu Hussain (2017) chứng minh vai trò của dự án, học tập hợp tác trong môi trường được bảo vệ. Về đánh giá, Gary Mitchell Allan (2006) và Weidong Li cùng cộng sự (2008) phân chia trách nhiệm thành các tiêu chí tôn trọng, giúp đỡ, nỗ lực và tự định hướng.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu riêng lẻ về giáo dục đạo đức hoặc quyền trẻ em, các tài liệu hướng dẫn cụ thể về giáo dục TTN cho trẻ 5-6 tuổi theo tiếp cận dựa trên Quyền trẻ em vẫn còn rất hạn chế. Luận án đi sâu giải quyết bản chất, các giai đoạn hình thành, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chuẩn hóa và đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm gắn liền với quyền tham gia và quyền được tôn trọng của trẻ tại trường mầm non.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết liên ngành gồm Tâm lý học phát triển, Giáo dục học mầm non và Xã hội học, được triển khai qua 5 cách tiếp cận:

  1. Tiếp cận dựa trên Quyền trẻ em: Dựa trên khung tiêu chuẩn quốc tế (UNICEF/UNESCO) giải quyết ba khía cạnh: Quyền được giáo dục, Quyền đối với chất lượng giáo dục và Quyền được tôn trọng trong môi trường học tập. Bản chất là xác định nguyên nhân gốc rễ, chuyển đổi mâu thuẫn nội tại (giữa sợ trách phạt và tự giác làm nghĩa vụ, giữa quyền và trách nhiệm) thông qua trao quyền cho trẻ.
  2. Tiếp cận lịch sử - xã hội: Xem xét trách nhiệm đặt trong bối cảnh xã hội cụ thể, nơi trách nhiệm chuyển hóa từ nghĩa vụ đạo đức truyền thống sang sự kết hợp giữa nghĩa vụ đạo đức và nghĩa vụ pháp lý phù hợp quyền con người.
  3. Tiếp cận giá trị (Value-Based Education Approach): Coi trách nhiệm là giá trị sống định hướng cho nhận thức, tình cảm và hành vi, đòi hỏi xây dựng môi trường học đường tôn trọng các giá trị chuẩn mực.
  4. Tiếp cận hoạt động: Hoạt động là phương thức và điều kiện để hình thành, bộc lộ tâm lý; TTN được trải nghiệm và kiểm nghiệm qua các dạng hoạt động phong phú của trẻ.
  5. Tiếp cận cá nhân: Đặt trẻ ở vị trí chủ thể, tính đến các yếu tố bên trong (nhận thức, sở thích, động cơ, cảm xúc) và yếu tố môi trường bên ngoài để tạo động lực nội tại cho trẻ.

Luận án xác định khái niệm: "Tính trách nhiệm là một phẩm chất tâm lí của cá nhân, thể hiện cá nhân đó ý thức được hành động muốn làm, cần phải làm phù hợp với vai trò xã hội và tự giác thực hiện, tự chịu hậu quả với hành động đã gây ra."

Cấu trúc TTN gồm 3 thành tố tương tác hữu cơ:

  • Nhận thức: Hiểu biết về trách nhiệm, khái niệm, hành vi cần làm, giữ vai trò định hướng hành động.
  • Hành động: Biểu hiện thực tế qua lời nói và việc làm đối với bản thân, mọi người và môi trường, giữ vai trò điều chỉnh và kiểm tra.
  • Thái độ: Sự tự nguyện, kiên trì, hứng thú, tôn trọng, mong muốn thực hiện, giữ vai trò động lực chủ đạo thúc đẩy hành vi.

Tiến trình hình thành TTN ở trẻ 5-6 tuổi diễn ra qua 3 giai đoạn kế tiếp:

  • Giai đoạn 1: Nhận thức cảm tính (Hình thành xúc cảm, kinh nghiệm ban đầu và nhu cầu muốn làm việc).
  • Giai đoạn 2: Hành động (Hành động theo nhu cầu và cảm xúc bản thân dựa trên kinh nghiệm hiện có).
  • Giai đoạn 3: Nhận thức lý tính và tự ý thức (Hiểu rõ nguyên nhân, tự giác thực hiện và sẵn sàng gánh chịu hậu quả).

Hệ thống phương pháp nghiên cứu được phối hợp chặt chẽ:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa tài liệu khoa học để xây dựng khung lý thuyết.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Quan sát: Quan sát toàn diện hoạt động 1 ngày của trẻ tại trường mầm non, tương tác của giáo viên và quan sát sâu tại 3 gia đình có con 5-6 tuổi.
    • Điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu khảo sát cho 120 giáo viên mầm non và 135 cha mẹ trẻ.
    • Thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu: Thực hiện với chuyên gia, giáo viên, phụ huynh và trẻ em nhằm làm rõ biểu hiện tâm lý.
    • Phương pháp chuyên gia: Tổ chức đàm thoại, xê-mi-na tham vấn chuyên gia tâm lý, giáo dục học và sinh lý học trẻ em.
    • Nghiên cứu trường hợp (Case study): Đi sâu phân tích hồ sơ tiểu sử, quan sát 3 trẻ (chọn ngẫu nhiên từ nhóm trẻ có TTN cao và thấp trong số 81 trẻ thực nghiệm) có sự đồng ý của gia đình.
    • Thực nghiệm sư phạm: Triển khai 2 vòng thực nghiệm nhằm kiểm chứng các biện pháp đề xuất.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Dùng phần mềm thống kê SPSS để tính toán các tham số thực trạng và so sánh đối chứng trước - sau thực nghiệm.

Bảng tổng hợp thiết kế mẫu nghiên cứu và tiến trình thực nghiệm của luận án:

Hoạt động nghiên cứu Thời gian thực hiện Địa bàn / Khách thể Quy mô mẫu
Khảo sát thực trạng 15/5/2020 – 01/6/2020 MN01, MN02 (Hà Nội), MN05 (Nam Định) 135 trẻ 5-6 tuổi, 120 giáo viên, 135 phụ huynh
Thực nghiệm vòng 1 (Thăm dò) 01/6/2020 – 14/8/2020 (2,5 tháng) Trường MN01 (Hà Nội) 23 trẻ 5-6 tuổi
Thực nghiệm vòng 2 (Chính thức) 17/8/2020 – 31/12/2020 (4,5 tháng) 3 lớp tại MN01, MN02 (Hà Nội) và MN05 (Nam Định) 81 trẻ 5-6 tuổi
Nghiên cứu trường hợp Trong giai đoạn thực nghiệm Tại trường mầm non và gia đình trẻ 03 trẻ 5-6 tuổi (từ 81 trẻ thực nghiệm)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của giáo dục TTN dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm công cụ, cấu trúc tâm lý của TTN và các yếu tố ảnh hưởng. Luận án phân tích tâm lý lứa tuổi 5-6 dựa trên sự phát triển tư duy logic sơ đẳng, các bậc thang nhu cầu Maslow (sinh lý, an toàn, xã hội, tôn trọng, khẳng định bản thân) và các xúc cảm, tình cảm đạo đức, trí tuệ.

Về mặt sư phạm, luận án xác định ba dạng hoạt động nòng cốt để giáo dục TTN:

  • Hoạt động chơi: Bao gồm trò chơi đóng vai theo chủ đề (tập dượt đảm nhận vai trò xã hội, thực hiện trách nhiệm chức năng, tôn trọng bạn chơi, dọn dẹp đồ chơi) và trò chơi có luật (rèn luyện tính tuân thủ quy tắc, trách nhiệm tập thể).
  • Hoạt động học: Rèn luyện tính định hướng nhiệm vụ, sự tự chủ, tập trung chú ý và tuân thủ nội quy học tập.
  • Hoạt động lao động: Dựa trên sự kế thừa phân loại của Đào Thanh Âm (tự phục vụ, sinh hoạt, thiên nhiên, thủ công) và Lê Ánh Tuyết (tự phục vụ, trực nhật, tập thể), luận án xác lập 3 dạng lao động phù hợp giáo dục TTN: lao động chăm sóc bản thân; lao động chăm sóc, giúp đỡ người khác; lao động chăm sóc môi trường.

Để đo lường kết quả, luận án xây dựng bộ tiêu chí đánh giá gồm 3 tiêu chí và 9 chỉ số:

  • Tiêu chí 1: Nhận thức về trách nhiệm: CS 1.1 (Nêu được những việc cần làm hàng ngày), CS 1.2 (Giải thích được tại sao cần phải làm việc đó), CS 1.3 (Hiểu mọi người phải tự chịu hậu quả về việc mình làm).
  • Tiêu chí 2: Hành động có trách nhiệm: CS 2.1 (Luôn thực hiện các việc cần làm hàng ngày), CS 2.2 (Hoàn thành các công việc cần làm hàng ngày), CS 2.3 (Đánh giá đúng kết quả và tự nhận hậu quả).
  • Tiêu chí 3: Thái độ có trách nhiệm: CS 3.1 (Tự giác thực hiện việc cần làm hàng ngày), CS 3.2 (Kiên trì, nỗ lực để hoàn thành tốt việc đang làm), CS 3.3 (Công bằng khi đánh giá và chủ động nhận lỗi, sửa lỗi).

Chương 1 cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng gồm: đặc điểm tâm lý cá nhân trẻ; môi trường vật chất và môi trường tâm lý - xã hội; và tác động từ các lực lượng giáo dục gồm giáo viên (hình mẫu, nhận thức, phương pháp), cha mẹ (hành vi làm gương, quy tắc gia đình) và cán bộ quản lý nhà trường.

Chương 2: Thực trạng giáo dục TTN dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

Chương 2 phân tích nội dung Chương trình Giáo dục mầm non (văn bản hợp nhất năm 2021) và Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi (2010). Văn bản đã chứa đựng các mục tiêu, kết quả mong đợi phản ánh trách nhiệm với bản thân (tự phục vụ, cài khuy, rửa tay, đội mũ khi nắng, mặc ấm khi lạnh; chỉ số 31, 33), trách nhiệm với người khác (chú ý lắng nghe, chờ đến lượt, xin lỗi, cảm ơn, giúp đỡ bạn bè; chỉ số 45, 60), và trách nhiệm với môi trường (bỏ rác đúng nơi quy định, chăm sóc cây và con vật, tiết kiệm điện nước; chỉ số 39, 57).

Qua khảo sát thực trạng trên 135 trẻ, 120 giáo viên và 135 cha mẹ tại Hà Nội và Nam Định, tác giả chỉ ra rằng nhận thức của giáo viên về Quyền trẻ em và phương thức tích hợp giáo dục trách nhiệm dựa trên quyền còn hạn chế. Giáo viên còn thiên về hình thức mệnh lệnh, ít tạo cơ hội cho trẻ tự lựa chọn hoặc tham gia xây dựng quy tắc lớp học. Mức độ biểu hiện TTN của trẻ không đồng đều giữa nhận thức và hành động; thái độ kiên trì và tự chịu hậu quả còn yếu. Dữ liệu thực trạng phản ánh khoảng trống giữa mục tiêu của chương trình giáo dục mầm non và biện pháp triển khai thực tế tại các cơ sở giáo dục.

Chương 3: Đề xuất biện pháp giáo dục TTN dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận của Chương 1 và thực trạng khảo sát tại Chương 2, chương này đề xuất hệ thống các biện pháp giáo dục TTN theo nguyên tắc tôn trọng và trao quyền cho trẻ. Hệ thống biện pháp được thiết kế xoay quanh việc thỏa mãn 4 nhóm quyền cơ bản của trẻ em (Quyền sống còn, Quyền phát triển, Quyền được bảo vệ, Quyền tham gia) thông qua các hoạt động hàng ngày:

  • Tạo môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, bình đẳng, kích thích trẻ tích cực hoạt động.
  • Tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong hoạt động chơi, hoạt động học và hoạt động lao động nhằm cung cấp các tình huống có vấn đề để trẻ tự đưa ra quyết định và tự chịu trách nhiệm.
  • Tăng cường trao quyền cho trẻ: Cho phép trẻ tự xây dựng nội quy lớp học, tự phân công công việc, thảo luận và đánh giá lẫn nhau.
  • Phối hợp giữa giáo viên và gia đình trong việc duy trì thói quen, nề nếp và thống nhất cách thức ứng xử tôn trọng quyền trẻ em.

Chương 4: Thực nghiệm biện pháp giáo dục TTN dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

Chương 4 mô tả toàn bộ quy trình và kết quả thực nghiệm sư phạm theo 2 vòng:

  • Vòng 1 thực hiện thăm dò trên 23 trẻ tại trường MN01 nhằm hoàn thiện quy trình tổ chức và tính khả thi của các biện pháp sư phạm.
  • Vòng 2 tiến hành thực nghiệm chính thức trên 81 trẻ tại 3 trường (MN01, MN02 tại Hà Nội và MN05 tại Nam Định) trong thời gian 4,5 tháng.

Luận án tiến hành đo đạc mức độ biểu hiện TTN của trẻ theo bộ tiêu chí gồm 3 tiêu chí và 9 chỉ số đã xác lập trước và sau thực nghiệm. Số liệu thu thập được xử lý thông qua phần mềm SPSS, kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các lần đánh giá. Kết quả thực nghiệm khẳng định giả thuyết khoa học: Các biện pháp giáo dục dựa trên việc trao quyền và tổ chức hoạt động trải nghiệm đa dạng đã nâng cao rõ rệt các mức độ biểu hiện về nhận thức, hành động và thái độ trách nhiệm của trẻ 5-6 tuổi.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn như sau:

Về mặt lý luận:

  • Bổ sung và làm phong phú thêm lý luận giáo dục mầm non về việc hình thành TTN cho trẻ 5-6 tuổi tiếp cận từ góc độ Quyền trẻ em.
  • Làm sáng tỏ bản chất của TTN ở lứa tuổi mẫu giáo lớn, xác lập cấu trúc ba thành tố (nhận thức, hành động, thái độ) và mô tả cơ chế hình thành qua ba giai đoạn (nhận thức cảm tính -> hành động -> nhận thức lý tính và tự ý thức).
  • Xây dựng khung tiêu chí đánh giá chuẩn hóa gồm 3 tiêu chí chính và 9 chỉ số hành vi đo lường TTN của trẻ 5-6 tuổi.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp nguồn cứ liệu thực chứng về thực trạng giáo dục TTN cho trẻ 5-6 tuổi tại một số trường mầm non thuộc thành phố Hà Nội và tỉnh Nam Định, chỉ ra những bất cập trong việc lạm dụng biện pháp giáo dục áp đặt truyền thống.
  • Đề xuất hệ thống biện pháp giáo dục TTN mang tính thực chứng, khả thi, gắn liền với các quyền tham gia, bảo vệ và phát triển của trẻ em trong sinh hoạt mầm non.
  • Tạo nguồn tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu, đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho sinh viên ngành giáo dục mầm non cũng như giáo viên mầm non tại các cơ sở giáo dục.

Khuyến nghị sư phạm:

  • Đối với trường mầm non: Cần chuyển đổi phương thức quản lý hành chính cứng nhắc sang mô hình quản lý dân chủ, khuyến khích giáo viên đổi mới phương pháp và trao quyền cho trẻ.
  • Đối với giáo viên mầm non: Cần thiết lập môi trường giao tiếp tôn trọng trẻ, sử dụng lời mời thay vì mệnh lệnh, chuyển từ hình thức răn dạy lý thuyết sang tổ chức các trải nghiệm thực hành tự phục vụ, trực nhật và trò chơi tập thể.
  • Đối với cha mẹ trẻ: Cần thống nhất quy tắc giáo dục với nhà trường, từ bỏ biện pháp đòn roi hay làm thay con, tạo cơ hội cho trẻ được tham gia các công việc gia đình vừa sức.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm chỉ giới hạn tại một số trường mầm non thuộc hai tỉnh/thành phố (Hà Nội và Nam Định), chưa thể bao quát các vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa đặc thù khác.
  • Khách thể nghiên cứu tập trung chuyên biệt vào lứa tuổi mẫu giáo lớn (5-6 tuổi), chưa tiến hành nghiên cứu so sánh đối chiếu liên đới với các lứa tuổi mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) hoặc mẫu giáo bé (3-4 tuổi).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm hệ thống biện pháp trên các mẫu nghiên cứu đa dạng hơn ở các vùng nông thôn, miền núi hoặc các trường mầm non ngoài công lập.
  • Nghiên cứu tính kế thừa và theo dõi dọc (longitudinal study) về sự duy trì tính trách nhiệm của trẻ khi chuyển tiếp từ bậc học mầm non sang lớp một trường tiểu học.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo thiết thực cho các đối tượng và hoạt động chuyên môn sau:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Giáo dục học: Tham khảo khung lý thuyết tiếp cận quyền trẻ em, phương pháp thiết kế bộ công cụ đánh giá tâm lý lứa tuổi mẫu giáo và kỹ thuật tổ chức thực nghiệm sư phạm 2 vòng.
  • Giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm mầm non: Vận dụng làm tài liệu giảng dạy cho các học phần Giáo dục học mầm non, Phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi, và chuyên đề giáo dục giá trị sống - kỹ năng sống.
  • Giáo viên mầm non và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non: Tham khảo trực tiếp bộ 3 tiêu chí - 9 chỉ số để quan sát, đánh giá trẻ; đồng thời áp dụng các biện pháp tổ chức hoạt động học, chơi, lao động theo hướng trao quyền thực chất cho trẻ tại nhóm lớp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "Tính trách nhiệm" của trẻ 5-6 tuổi được tác giả định nghĩa như thế nào? Tác giả định nghĩa: "Tính trách nhiệm là một phẩm chất tâm lí của cá nhân, thể hiện cá nhân đó ý thức được hành động muốn làm, cần phải làm phù hợp với vai trò xã hội và tự giác thực hiện, tự chịu hậu quả với hành động đã gây ra." Khái niệm này cấu thành từ 3 khía cạnh: nhận thức đúng về việc cần làm, tự giác thực hiện, và tự chịu trách nhiệm về hậu quả.

2. Cấu trúc và quá trình hình thành tính trách nhiệm ở trẻ 5-6 tuổi gồm những thành phần nào? Cấu trúc TTN gồm 3 thành tố: Nhận thức (định hướng), Hành động (điều chỉnh, kiểm tra) và Thái độ (động lực chủ đạo). Quá trình hình thành diễn ra qua 3 giai đoạn liên tục: Giai đoạn 1 - Nhận thức cảm tính (kinh nghiệm và xúc cảm ban đầu thôi thúc muốn làm); Giai đoạn 2 - Hành động (thực hiện theo nhu cầu và cảm xúc); Giai đoạn 3 - Nhận thức lý tính và tự ý thức (hiểu ý nghĩa, tự giác làm và chịu trách nhiệm).

3. Bộ tiêu chí đánh giá tính trách nhiệm của trẻ 5-6 tuổi trong luận án gồm những chỉ số cụ thể nào? Bộ tiêu chí gồm 3 tiêu chí và 9 chỉ số:

  • Tiêu chí 1: Nhận thức về trách nhiệm (CS 1.1: Nêu được việc cần làm hàng ngày; CS 1.2: Giải thích được lý do cần làm; CS 1.3: Hiểu phải tự chịu hậu quả).
  • Tiêu chí 2: Hành động có trách nhiệm (CS 2.1: Luôn thực hiện việc cần làm; CS 2.2: Hoàn thành việc cần làm; CS 2.3: Đánh giá đúng kết quả và tự nhận hậu quả).
  • Tiêu chí 3: Thái độ có trách nhiệm (CS 3.1: Tự giác thực hiện; CS 3.2: Kiên trì, nỗ lực; CS 3.3: Công bằng khi đánh giá, chủ động nhận lỗi và sửa lỗi).

4. Khách thể khảo sát và mẫu thực nghiệm của đề tài được triển khai với số lượng bao nhiêu và ở đâu? Khảo sát thực trạng được thực hiện trên 135 trẻ 5-6 tuổi, 120 giáo viên mầm non và 135 phụ huynh tại các trường MN01, MN02 (Hà Nội) và MN05 (Nam Định) từ 15/5/2020 đến 01/6/2020. Thực nghiệm vòng 1 (thăm dò) diễn ra trong 2,5 tháng tại MN01 với 23 trẻ. Thực nghiệm vòng 2 (chính thức) diễn ra trong 4,5 tháng tại 3 trường trên với 81 trẻ (mỗi trường 1 lớp), kết hợp nghiên cứu sâu 3 trường hợp trẻ em.

5. Hoạt động lao động của trẻ mẫu giáo được phân loại như thế nào trong luận án? Luận án kế thừa cách phân loại của Đào Thanh Âm và Lê Ánh Tuyết, phân chia hoạt động lao động thành 3 dạng gắn với đối tượng trách nhiệm: lao động chăm sóc bản thân (tự phục vụ sinh hoạt cá nhân); lao động chăm sóc, giúp đỡ người khác (hỗ trợ người lớn và bạn bè khi cần thiết); và lao động chăm sóc môi trường (trực nhật, dọn đồ chơi, chăm sóc cây cối và con vật).

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Giáo dục tính trách nhiệm dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non" đã hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đề ra. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận liên ngành, xác định rõ cấu trúc tâm lý và tiến trình 3 giai đoạn hình thành tính trách nhiệm ở lứa tuổi mẫu giáo lớn. Kết quả khảo sát thực trạng tại Hà Nội và Nam Định cùng quy trình thực nghiệm sư phạm 2 vòng đã chứng minh tính hiệu quả của hệ thống biện pháp giáo dục dựa trên việc tôn trọng và trao quyền cho trẻ. Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và bộ tiêu chí đánh giá chuẩn hóa, có giá trị ứng dụng cao cho nghiên cứu và thực tiễn giáo dục mầm non hiện nay.