CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẦM NON 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới Con người ngay từ khi sinh ra đã cần nhiều kỹ năng để tồn tại và phát triển, chính vì vậy giáo dục kỹ năng sống cho con người đã hình thành từ rất sớm, từ khi xã hội chưa phát triển cho đến ngày hôm nay. Giáo dục kỹ năng sống đã trở thành vấn đề được loài người coi trọng trong nền giáo dục của mình.
Kỹ năng sống không chỉ đơn thuần là giáo dục giới hạn trong phạm vi hẹp mà đã được khái quát, nghiên cứu và hình thành lý luận trong hệ thống giáo dục của con người. Nhất là trong thời đại hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, khoa học công nghệ không ngừng tiến bộ thì nhu cầu học tập của con người ngày càng nhiều hơn. Con người có nhu cầu muốn học để biết, để làm việc, để tự khẳng định mình và để hòa nhập với cộng đồng. Khái niệm kỹ năng sống lần đầu tiên được bàn đến trong Hiến chương Ottawa của WHO (1986) về nâng cao sức khỏe, trong đó có nêu mục “Các kỹ năng cá nhân” nhằm “hỗ trợ sự phát triển cá nhân và xã hội thông qua cung cấp thông tin, giáo dục sức khỏe và nâng cao kỹ năng sống.
Bằng cách đó, nó gia tăng các cơ hội, giúp người dân có khả năng chọn lựa những điều có lợi cho sức khỏe và môi trường” [26], [27]. Khái niệm này liên kết kỹ năng sống với việc ra quyết định liên quan tới trách nhiệm cá nhân và năng lực để thực hiện các lựa chọn hành vi thích hợp cho một cuộc sống lành mạnh. Về sau, WHO (1997) tiếp tục mở rộng khái niệm này, theo đó kỹ năng sống có thể được định nghĩa là “các khả năng về thích nghi và hành vi tích 8 cực giúp cho các cá nhân có thể đáp ứng hiệu quả các nhu cầu và thử thách trong cuộc sống hàng ngày” [27]. Giáo dục kỹ năng sống tại các nước phương Tây vận dụng một cách tổng hợp những quan điểm của những tổ chức như WTO hay UNICEF để giáo dục kỹ năng sống cho các thế hệ trẻ.
Đối với các nước gần với Việt Nam như khu vực châu Á - Thái Bình Dương thì việc nghiên cứu kỹ năng sống theo hướng áp dụng thử nghiệm hoặc ứng dụng trong quá trình huấn luyện là chủ yếu. Chỉ có một số ít nước đưa kỹ năng sống thành một môn học riêng biệt như Campuchia, Malaixia, … Còn lại đa số các nước để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp kỹ năng sống vào nội dung các môn học, chủ yếu là các môn khoa học xã hội như: giáo dục đạo đức, giáo dục sức khỏe, giáo dục giới tính, giáo dục quyền con người, giáo dục môi trường, … như ở Nhật, Hàn Quốc, Singapore,… Có thể thấy rằng, giáo dục kỹ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào chương trình giảng dạy cho học sinh dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng chưa có nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng kỹ năng sống của trẻ em lứa tuổi mầm non hay việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong các trường mầm non cũng chưa được nghiên cứu và đánh giá cụ thể. Những nghiên cứu ở Việt Nam Thuật ngữ kỹ năng sống được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình của UNICEF (1996): “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” [3]. Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ngày càng được mở rộng.
Trong giai đoạn đầu tiên, khái niệm kỹ năng sống được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng sống cốt lõi như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, 9 kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu. Ở giai đoạn này, chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục sức khỏe của thanh thiếu niên. Giai đoạn 2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống”. Trong giai đoạn này nội dung của khái niệm kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống đã được phát triển sâu sắc hơn.
Khái niệm kỹ năng sống được hiểu đầy đủ và đa dạng hơn sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 23 - 25/10/2003. Từ đó, những người làm công tác giáo dục ở Việt Nam nhận thức đầy đủ hơn về giá trị của kỹ năng sống cũng như ý nghĩa cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho thế hệ trẻ đặc biệt là đối tượng sinh viên đại học nói riêng và toàn xã hội nói chung. Ở Việt Nam, đề tài kỹ năng sống và hoạt động giáo dục kỹ năng sống đã được rất nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau. Tác giả Nguyễn Thanh Bình (2011) là một trong những người có nhiều bài báo, đề tài nghiên cứu khoa học, giáo trình nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống.
Trong cuốn “Giáo trình giáo dục kỹ năng sống”, tác giả đề cập đến sự cần thiết phải đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống vào đào tạo sư phạm. Đồng thời, tác giả đã trình bày khung lý thuyết về giáo dục kỹ năng sống. Phương pháp dạy học tích cực và phương pháp đánh giá theo cách tiếp cận năng lực khi tổ chức dạy - học chuyên đề này. Với phương thức đó người học không chỉ hiểu biết về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống mà còn vận dụng được cách tiếp cận 4 trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI và có thể thiết kế được các chủ đề giáo dục kỹ năng sống phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau để việc triển khai giáo dục kỹ năng sống có thể lan tỏa rộng hơn [1].
Riêng đối với giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non, trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”, Bộ GD&ÐT (2009) đã tích hợp kỹ năng sống 10 trong các năng lực thuộc lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội nhằm rèn luyện các kỹ năng cho trẻ mầm non 5-6 tuổi chuẩn bị vào lớp 1, như: Trẻ thể hiện sự nhận thức về bản thân, tin tưởng vào khả năng của bản thân, biết cảm nhận và thể hiện cảm xúc, có mối quan hệ tích cực với bạn bè và người lớn, hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh, có các hành vi thích hợp trong ứng xử xã hội, thể hiện sự tôn trọng người khác [4]. Bắt đầu từ năm học 2010 – 2011, trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học số 4945 ngày 18/8/2010 của bậc học mầm non trong phần Nhiệm vụ cụ thể đã nêu rõ: “Tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho trẻ (kỹ năng tự phục vụ, thói quen vệ sinh tốt; kỹ năng tự bảo vệ an toàn bản thân; mạnh dạn trong giao tiếp; thân thiện với bạn bè; lễ phép với người lớn tuổi. Vấn đề quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non cũng thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm đến. Tiêu biểu như: Tác giả Nguyễn Thị Hương Lan (2016) thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non các trường mầm non công lập quận Đống Đa, Hà Nội”, Học viện Khoa học Xã hội [13].
Tác giả Vũ Thị Huyền Trang (2017) thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 đến 6 tuổi ở các trường mầm non thực hành của trường cao đẳng sư phạm trung ương”, Học viện Quản lý Giáo dục [18]. Tác giả Đào Thị Chi Hà (2018) thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 đến 6 tuổi ở các trường mầm non tư thục”, Học viện Khoa học Xã hội [10]. Tác giả Phạm Thị Chung (2019) nghiên cứu đề tài “ Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non ở thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông”, Đại học Quy Nhơn [9]. Các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống đã miêu tả đầy đủ, sinh 11 động, hệ thống về tiếp cận và thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non.
Giáo dục kỹ năng sống mặc dù đã được định hướng trong mục tiêu, nội dung và chương trình giáo dục, song việc thực hiện hoạt động này trong các trường mầm non còn rất nhiều hạn chế. Chủ yếu là giáo dục thông qua các môn học trên lớp, chưa có nhiều nghiên cứu và đề ra biện pháp cụ thể trong việc định hướng giáo dục và rèn kỹ năng sống trong các hoạt động khác. Các nghiên cứu ở trên cũng đã tổng thuật và xác định một số vấn đề về cơ sở lý luận cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động này với các cách tiếp cận khác nhau, đồng thời các tác giả đã phân tích làm rõ thực trạng dựa trên nhiều khía cạnh khác nhau của các vấn đề, các đối tượng khác nhau ở những địa bàn nghiên cứu khác nhau và đã đề xuất các biện pháp phù hợp với tình hình thực tế với đối tượng, địa phương đó. Tuy nhiên, vấn đề quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định chưa được nghiên cứu cụ thể.
Chính vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Tùy theo từng góc độ tiếp cận mà khái niệm quản lý được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Quản lý hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, nó bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công, hợp tác lao động.
Quản lý là một dạng hoạt động xã hội đặc thù, trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội, một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Có thể nói quản lý là một trong những loại hình lao động có hiệu quả nhất, quan trọng nhất. Quản lý là một hoạt động có chủ định của chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu của công tác quản lý. Quản lý 12 vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật của người quản lý trong việc điều khiển tổ chức.