Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO TRẺ MẪU GIÁO TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới *Các nghiên cứu về hoạt động giáo dục ở trường mầm non Năm 2000, UNESCO đã khẳng định tầm quan trọng của hoạt động giáo dục mầm non bằng mục tiêu hành động là mở rộng việc cải thiện chăm sóc giáo dục trẻ mầm non một cách toàn diện đặc biệt là trẻ dễ bị tổn thương hoặc trẻ em thiệt thòi (Bộ tư pháp, 1976). Hiện nay, ở các nước phát triển họ luôn ưu tiên cho giáo dục, các hoạt động giáo dục mầm non được quan tâm của toàn bộ xã hội.
Chẳng hạn như giáo dục mầm non ở các nước Bắc Âu (Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch), hoạt động giáo dục mầm non của các nước chú trọng đến sự phát triển toàn diện của trẻ - trong đó hoạt động giáo dục thể chất, hoạt động giáo dục trong thiên nhiên và hoạt động giáo dục ngoài trời được chú trọng. Hoạt động giáo dục mầm non xuất phát từ chính hứng thú của trẻ trong lớp học, mối quan hệ giữa giáo viên và trẻ là thân mật, chia sẻ và đồng hành. Việc ưu tiên hàng đầu là tính sáng tạo và linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục, không đặt nặng vấn đề kiểm tra mà với xu hướng chú trọng đánh giá quá trình thông qua các hoạt động giáo dục hằng ngày. Tại một số nước ở Châu Âu (Anh, Úc, Niu Di-lân, Mĩ), họ thực thi triết lí lấy trẻ làm trung tâm và đang có xu hướng tăng vai trò dẫn dắt của giáo viên thay vì định hướng suy nghĩ của trẻ.
Các hoạt động giáo dục mầm non thúc đẩy hoạt động nhóm và các hoạt động do trẻ khởi xướng theo hứng thú của mình. Với chương trình giáo dục linh hoạt, mở, theo cách tiếp cận tích hợp và giáo dục thông qua vui chơi được xem là xương sống trong trải nghiệm hằng ngày của trẻ tại trường mầm non. Ở Châu Á (Nhật Bản, Sing-ga-po, Hàn Quốc), các trường đã tiếp cận với các chuẩn mực của các nước Châu Âu về cả chương trình và phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, tích cực và tích hợp. Bên cạnh việc tổ chức các hoạt động giáo dục mầm non từ mô hình chương trình giáo dục mầm non trên thế giới, giáo dục của các nước trên còn có 9 những nét đặc trưng riêng, thể hiện giá trị văn hóa truyền thống cốt lõi của họ (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019).
Như vậy, bên cạnh tiếp cận các xu hướng giáo dục mầm non được định hình bởi quốc gia, châu lục, cũng cần kể đến những nhà khoa học tiêu biểu về quan điểm giáo dục mới. Trong đó, quan điểm lấy trẻ làm trung tâm đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nghiên cứu và thực tiễn giáo dục ở các cấp học, bậc học. Quan điểm này cho rằng giáo dục cần tập trung vào người học được xác định bởi nhu cầu người học, mong muốn người học tham gia tích cực vào việc hình thành và kiểm soát, huy động nguồn lực và kinh nghiệm của người học đó chính là quan điểm giáo dục Ban đầu, quan điểm này chỉ được ủng hộ bởi một nhóm các nhà nghiên cứu, thực hành giáo dục tiến bộ, tuy nhiên, theo thời gian, quan điểm này ngày được phổ biến và tán thành rộng rãi. Cho đến nay, lí luận giáo dục về lấy trẻ làm trung tâm đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019).
Trong số các nhà nghiên cứu, Maria Montessori (1879-1952), nhà giáo dục người Ý với phương pháp giáo dục thực tiễn mang tính đột phá đã nhanh chóng được phổ biến và thu được thành công vang dội trên khắp thế giới. Mục tiêu giáo dục của Montessori là tạo điều kiện tối đa để trẻ trau dồi niềm đam mê học hỏi, thông qua thực hành thường xuyên để hình thành các kĩ năng và phát triển năng khiếu toàn diện cho từng bé.Montessori cần quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đứa trẻ phát triển thông qua trò chơi, trẻ được tự do lựa chọn các vật liệu và tự do làm điều chúng thích trong mội trường không gian vật chất hấp dẫn, thú vị do GV tạo ra (Montessori & Isaacs, 2013). Khi tiến hành nghiên cứu về các hoạt động giáo dục cho trẻ mầm non, trên thế giới đã có khá nhiều các nhà giáo dục học đi sâu vào đề tài này như: Glenn Doman (1919–2013), các cộng sự đã nghiên cứu về sự phát triển não bộ và các yếu tố gây gây tổn thương não của trẻ để từ đó đưa ra những chiến lược về việc phát triển sớm cho trẻ em bình thường (Doman &Aisen, 2005). Điển hình, trong bộ sách về giáo dục sớm của ông, Doman đưa ra cơ sở lí thuyết và hướng dẫn các bậc phụ huynh áp dụng việc chơi với trẻ nhỏ để qua đó dạy cho trẻ những kiến thức bổ ích, và trẻ tiếp nhận chúng một cách tích cực.
Nói cách khác, phương pháp giáo dục Glenn Doman dựa 10 trên quan điểm trọng tâm “chơi mà học, học mà chơi” và thực nghiệm đã chứng tỏ tính hiệu quả của cách thức này. Trẻ sẽ hoàn toàn được tự do khám phá những kiến thức trong những giờ chơi cùng bố mẹ và ghi nhớ nó theo cách của riêng mình (Doman & Aisen, 2005). Giáo sư Makoto Shichida (1929-2009) là một nhân vật có uy tín lớn ở Nhật Bản, ông đã nhận được rất nhiều giải thưởng cho những đóng góp của mình đối với nền giáo dục mầm non. Phương pháp giáo dục Shichida đặt mục tiêu giáo dục toàn bộ nhân cách và nuôi dưỡng tâm hồn trẻ lên hàng đầu.
Cụ thể là dạy trẻ những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống, cách trẻ suy nghĩ độc lập, các quy tắc xã hội, cũng như việc phát triển những cảm xúc và tinh thần cộng đồng. Ông là tác giả của bộ sách Cha mẹ Nhật đã dạy con như thế nào gồm 3 tập. Trong bộ sách của mình ông đã đưa ra phương pháp giáo dục giúp trẻ phát triển động cơ học tập, cũng như niềm vui tò mò, khám phá những điều mới và thế giới quan xung quanh trẻ. Phương pháp Shichida đã xây dựng một cách tiếp cận về giáo dục theo hướng phát triển những tiềm năng thiên bẩm của con người, chứ không phải là để nhồi nhét tri thức.
Hệ thống giáo dục nên chú trọng đến việc tôn trọng tính cá thể của từng trẻ trong một tổng thể, chứ không chỉ xét đến những khả năng dựa vào học lực của trẻ ở trường. Đồng thời, mục tiêu của giáo dục não bộ cũng là để khuyến khích trẻ sử dụng những khả năng tuyệt vời của mình để phục vụ cho xã hội, cộng đồng, thế giới và trở thành những công dân tích cực (Shichida, 2002). *Các nghiên cứu về quản lí hoạt động giáo dục ở trường mầm non Nhà nghiên cứu Paul Hersey và KenBlanc Heard đã nghiên cứu và cho thấy rằng việc quản lí của HT và đối tượng quản lí thì đây là một quá trình phối hợp làm việc hiệu quả cũng như việc phối hợp với các nguồn lực liên quan, cũng như sự phân công phân nhiệm giữa ban giám hiệu trong nhà trường là vô cùng cần thiết trong việc điều hành lãnh đạo các hoạt động trong nhà trường (Hersey & Heard, 1993). Với nhà nghiên cứu V.
Xukhomlinxki đã khẳng định tầm quan trọng của việc tổ chức các hoạt động giáo dục là biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho nhà trường kể cả đội ngũ GV và ông cũng chỉ rõ thực trạng yếu kém của việc phân tích 11 hoạt động dự giờ cũng như trao đổi góp ý rút kinh nghiệm hoạt động giáo dục của GV (Xukhomlinxki, 1984). Hoặc với nhà nghiên cứu Harol Koont, ông cho rằng mục tiêu của nhà quản lí là hình thành một môi trường lí tưởng, nhà quản lí cần có nghệ thuật và có kiến thức quản lí khoa học. Ông nhấn mạnh việc quản lí cần đảm bảo sự hợp tác và nỗ lực của từng cá nhân để tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm đạt được mục tiêu của nhà trường (Harol Koont, 1993). Tại Việt Nam Là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, cấp học mầm non tạo ra các tiền đề cho trẻ bước vào các cấp học cao hơn, xây dựng những nền tảng cơ bản, ban đầu, trọng yếu cho việc hình thành nên nhân cách của mỗi cá nhân.
Nhiều năm trở lại đây, với sự quan tâm để phát triển cấp học GDMN, đã có khá nhiều các điều chỉnh mạnh mẽ trong các cơ chế, chính sách, chế độ đối với cấp học này. GDMN ngày càng được nhận sự quan tâm của xã hội, của ban lãnh đạo các cấp từ trung ương đến địa phương. Nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, nhiều bài viết liên quan đến việc phát triển GDMN đã ra đời không nằm ngoài tâm huyết phát triển GDMN nước nhà, có thể kể đến như: Các nghiên cứu liên quan đến các hoạt động GDMN cũng đã được tìm hiểu và thực hiện. Tuy nhiên các nghiên cứu đều tập trung vào các nội dung liên quan đến vai trò của hoạt động GDMN (Mai Văn Nhân, 2006; Vũ Thị Thu Huyền, 2003; Hồ Thị Mỹ Duyên, 2006).
Song song với các nghiên cứu, một số tác giả đã khái quát các kết quả nghiên cứu thành các tài liệu giáo trình để đào tạo cho GV mầm non (Nguyễn Bích Thủy, Nguyễn Thị Anh Thư, 2005; Nguyễn Thị Thường, Hoàng Thị Ngọc Lan, 2007). Trong các tài liệu này, các tác giả đã giải thích quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, hướng dẫn việc thực hiện quan điểm giáo dục tiến bộ này trong môi trường mầm non. Bên cạnh đó, một số tác giả khác cũng quan tâm đến vấn đề triển khai thực tế quan điểm giáo dục này trong thực tiễn dạy học mầm non của GV (Nguyễn Thị Kim Hồng, 2011). Bên cạnh đó, một số tác giả đã cho chúng ta có cái nhìn khái quát về 12 công tác phối kết hợp các lực lượng trong giáo dục mầm non (Lê Thanh Hùng, 2013; Nguyễn Thị Minh Tâm, 2014).
Ngoài ra, một số tác giả đã nêu ra được công tác kiểm tra hoạt động sư phạm của GV (Nguyễn Minh Liêm, 2018); công tác quản lí nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho GV (Vũ Hoàng Chương, 2003); Công tác quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh (Võ Hoàng Long, 2018); và công tác quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh (Võ Hồng Lĩnh, 2018).