Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Để có được đội ngũ giáo viên đủ mạnh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, vấn đề đào tạo bồi dưỡng giáo viên hết sức cần thiết và quan trọng, đó là một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng của giáo dục. Do đặc điểm nghề nghiệp, giáo viên cần phải thường xuyên được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công dân., nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, trong đó chú trọng đến công tác bồi dưỡng giáo viên.
Nhiều quy định trong các Nghị quyết Đại hôi Đảng và các văn bản của ngành …đã thể hiện chủ trương đó: Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg ngày 27/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ ban hành “ về một số biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dục quốc dân”. Thủ tướng yêu cầu các cơ quan chức năng thực hiện một số biện pháp “Xây dựng đội ngũ giáo viên phổ thông đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu” , đồng thời yêu cầu xây dựng và thực hiện “Phát triển đội ngũ nhà giáo; chuẩn hóa trình độ của đội ngũ nhà giáo theo quy định của Luật giáo dục; cải tiến nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo và bồi dưỡng giáo viên”. Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Chấp TW Đảng về việc xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục đã nhấn mạnh mục tiêu “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được chuẩn 7 hóa, đảm bảo đủ chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo… đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Quyết định số 711/2012/QĐ-TTg ngày 13/06/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020: “Đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo sư phạm, hoạt động bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Các nhà quản lý học như Fiedeich Wiliam Taylor (1856-1915) người Mỹ; Henri Fayol (1841-1925) người Pháp và Max Weber (1864-1920) người Đức đều khẳng định: quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy của xã hội. Trong bất cứ lĩnh vực nào của xã hội thì quản lý luôn giữ vai trò trong việc điều hành và phát triển. Trong lĩnh vực GD&ĐT, quản lý là nhân tố giữ vai trò then chốt trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục. Ở Liên Xô trước đây, tiêu biểu là N.L Bôndurep với tác phẩm “Chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở trường phổ thông”.
Trong tác phẩm này, vai trò của kỹ năng sư phạm đối với nghề dạy học được tác giả đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh “những kỹ năng đó chỉ được hình thành và củng cố trong hoạt động thực tiễn của người thầy giáo”. Theo tác giả này, những yêu cầu về chuyên môn của người thầy giáo tất nhiên không phải chỉ có những kiến thức phong phú mà còn phải có những kỹ năng cần thiết để tổ chức và thực hành công tác giáo dục, vấn đề không phải chỉ ở chỗ tiếp thu kiến thức về tâm lý học và giáo dục học mà việc vận dụng chúng vào thực tế. Muốn làm công tác giáo dục tốt cần phải có kỹ năng giáo dục và phải có cả thời gian. Như vậy, việc bồi dưỡng giáo viên nhất thiết phải làm thường xuyên.
Trong xây dựng và phát triển đội ngũ GV nhà giáo dục học V.A Xukhomlinxki ( 1918- 1970) đã từng yêu cầu: “Phải bồi dưỡng đội ngũ GV, 8 phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng các biện pháp khác nhau”.A Xukhomlinxki cho rằng phải bồi dưỡng cả về chuyên môn nghiệp vụ, lẫn phẩm chất đạo đức cho đội ngũ này. Ông rất đề cao tầm quan trọng của việc tổ chức hội thảo chuyên môn, qua đó GV có điều kiện trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ của mình. Các nước như Hoa kỳ, Nhật bản, Singapore … luôn xem GV là điều kiện tiên quyết của sự nghiệp giáo dục và phát triển giáo dục. Vì vậy, chính phủ Hoa kỳ đã lấy giải pháp phát triển đội ngũ CBQL và GV làm then chốt trong chiến lược đưa giáo dục Hoa Kỳ vươn lên trong tốp đầu về chất lượng của giáo dục thế giới.
Ở Trung Quốc: Chính phủ coi đào tạo bồi dưỡng giáo viên (BDGV) là “Máy cái” của toàn bộ ngành giáo dục, là cơ sở nền tảng cho việc dạy dỗ thế hệ mới, đào tạo nên những con người có tư tưởng đạo đức tốt, có học vấn sâu sắc và sẵn sàng thích ứng thế giới tương lai. Họ dành cho GV những danh hiệu cao quý như: “Viên kim cương của nhân loại”; “ Người vun trồng các bông hoa của dân tộc”. Họ đã “ Tăng đầu tư ưu tiên xây dựng và củng cố các trường sư phạm trọng điểm, coi đó là đối sách chiến lược của toàn bộ sự nghiệp giáo dục, coi việc làm tốt công tác giáo dục sư phạm là chức năng của chính phủ”. Việc BDGV ở Pháp được thực hiện theo 3 hướng chính: Coi trọng việc tự nâng cao trình độ nghề nghiệp của GV.
Tạo ra sự phù hợp với công việc đối với tất cả GV đặc biệt là đối với GV dạy các môn mà lĩnh vực đó luôn có sự phát triển mạnh mẽ và các thiết bị trở nên lạc hậu. Định kỳ xác định những kiến thức sẽ phải đưa vào tổng thể chương trình bồi dưỡng để tổ chức BDGV. Có thể nói ở Pháp luôn có sự chú trọng tới vấn đề BDGV, bởi 9 họ luôn mong muốn có đội ngũ giáo viên (ĐNGV) có chất lượng cao nhằm đảm bảo mục tiêu, kế hoạch GD&ĐT. Nhìn chung các nước trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng GV và đều có hệ thống BDGV từ trung ương đến địa phương.
Hình thức BDGV tuỳ thuộc vào điều kiện của từng quốc gia, xây dựng quy trình phù hợp, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ GV. Các nghiên cứu ở trong nước Ở nước ta đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng giáo viên. Công tác đào tạo được tiến hành hết sức đa dạng, linh hoạt và phong phú, bao gồm: Đào tạo mới, đào tạo nâng chuẩn, bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ, bồi dưỡng thay sách giáo khoa… Năm 1994, Bộ GD & ĐT đã lưu hành tập “Bài giảng BDCM THCS” đã đề cập đến nhiều nội dung trong việc dạy học ở bậc THCS như: Các vấn đề quản lý giáo dục THCS, các vấn đề về tâm lý giáo dục, các vấn đề về kỹ năng dạy học. Nghiên cứu vấn đề này, xét các công trình trong nước có một số công trình ở Hải Phòng, Hà Nội, Bắc giang.
- Ở Hải Phòng có công trình “Những biện pháp tăng cường quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở ở Hải Phòng” của tác giả Đào Trung Đồng. Ở đề tài này người viết bàn đến các biện pháp tăng cường công tác bồi dưỡng giáo viên ở Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay. - Luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục với đề tài: “Những biện pháp quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học ở huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay” (Dương Văn Đức, 2006) tập trung vào bồi dưỡng GV Tiểu học. - Luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành quản lý và tổ chức công tác văn hoá, giáo dục với đề tài: “Một số giải pháp tăng cường quản lý công tác bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ GV THCS Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” 10 (Phùng Thanh Kỷ,1998) đã tập trung vào vấn đề bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ GVTHCS.
Nhiều tác giả đã nghiên cứu các đề tài về thực trạng BDCM ở các địa phương như: Những biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh THCS của tác giả Hồ Kim Ái; Biện pháp quản lý hoạt động BDCM cho giáo viên ở các trường trung học phổ thông thị xã Phú Thọ của tác giả Đỗ Thị Nga. Tuy có nhiều công trình nghiên cứu các biện pháp quản lý công tác BDCM cho giáo viên THCS nói chung, nhưng đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu các biện pháp quản lý công tác BDCM cho giáo viên THCS ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý Quản lý ( QL) là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người.
Từ xưa trong lịch sử loài người đã ra đời một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là lao động nhằm để tổ chức, điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định, là lao động ban đầu nhằm để quản lý con người và sau đó là quản lý xã hội, dạng lao động đặc thù đó được gọi là lao động quản lý. Quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Hoạt động quản lý được hình thành từ sự phân công, hợp tác lao động, từ sự xuất hiện của tổ chức cộng đồng. Với nhu cầu hướng tới hiệu quả tốt hơn, năng suất cao hơn trong hợp tác lao động của cộng đồng đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, phân công.
do vậy xuất hiện người quản lý và sự quản lý. Nói đến công việc quản lý là nói đến việc điều hành, điều khiển, chỉ huy; quản lý là một trong những hình thức lao động quan trọng nhất, vì nó 11 điều khiển các hoạt động lao động khác, hoạt động của con người càng đa dạng thì các hoạt động quản lý càng đa dạng, phong phú. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng thì “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Thuật ngữ “Quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích hợp nhau: Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển”.