Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2. Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh dân tộc nội trú trường Hữu Nghị T78 thông qua chương Este-lipit và chương Cacbohiđrat- Hóa học 12 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Vấn đề tự học, bồi dưỡng năng lực tự học bằng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Các nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực tự học: - Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Thủy: “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần dẫn xuất hiđrocacbon Hóa học 11 nâng cao”, bảo vệ năm 2012 tại trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội. - Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hoài Thanh:“ Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh thông qua hệ thống bài tập phần hóa học hữu cơ lớp 11 nâng cao ”, bảo vệ năm 2012 tại trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội. Các nghiên cứu về thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo mođun: - Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Hoàng Hà: “Nâng cao chất lượng dạy học phần Hoá hữu cơ (chuyên môn I) ở Trường CĐSP bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun”, bảo vệ năm 2003 tại trường ĐHSP Hà Nội. - Luận văn Thạc sĩ của tác giả Bùi Thị Tuyết Mai: “Nâng cao năng lực tự học cho học sinh giỏi hoá học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun (Chương Ancol-phenol và chương Anđehit-xeton)”, bảo vệ năm 2007 tại trường ĐHSP Hà Nội.
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Toàn: “Nâng cao năng lực tự học cho học sinh chuyên hóa học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun (phần hóa học vô cơ lớp 12)”, bảo vệ năm 2009 tại trường ĐHSP Hà Nội. - Luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Thị Thanh Hà: “Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun nhằm tăng cường năng lực tự học cho học sinh giỏi Hóa học 12 THPT”, bảo vệ năm 2010 tại trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Các nghiên cứu về áp dụng phương pháp dạy học tích cực: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Thị Thanh Trâm: “Vận dụng phương pháp Graph và sơ đồ tư duy trong dạy học chương nhóm Nitơ hóa học lớp 11 nâng cao trung học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh”, bảo vệ năm 2012 tại trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội. Tiếp tục phát triển các nghiên cứu trên đi theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun kết hợp với một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như: Graph, kĩ thuật SĐTD chúng tôi nghiên cứu mở rộng với đối tượng là học sinh trường dân tộc nội trú và đi sâu thêm phần Hoá hữu cơ ở hai chương: “Este - Lipit” và “Cacbohiđrat” của lớp 12.2 Cơ sở lí luận về bồi dƣỡng năng lực tự học 1.
Khái niệm Theo GS. Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi.) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [30, tr. Còn theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách Khoa 2001: “Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành” [14, tr – 67] Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm TH luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân. Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy.
Như vậy có thể xem tự học (Self - learning) là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích nhất định. Chu trình tự học của học sinh [32] Chu trình TH của HS là một chu trình 3 thời: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thời (1) : Tự nghiên cứu Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân. Thời (2) : Tự thể hiện Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học. Tự kiểm Tự tra, tự nghiên điểu cứu chỉnh Tự học Tự thể hiện Hình 1.Chu trình tự học 1.
Các hình thức tự học [23] Hoạt động TH của HS có thể diễn ra dưới các dạng: - TH có hướng dẫn trực tiếp: TH diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của GV khi đó, HS là chủ thể nhận thức tích cực, phát huy mọi năng lực cá nhân, tiến hành các hành động học tập để lĩnh hội tri thức theo sự hướng dẫn của GV. - TH có hướng dẫn: Hoạt động TH của học HS diễn ra dưới sự điều khiển gián tiếp của GV, HS tự mình sắp xếp kế hoạch sử dụng điều kiện vật chất, củng cố, đào sâu, mở rộng và hoàn chỉnh tri thức, hoàn thành các nhiệm vụ học tập. Trong hoạt động này, kỹ năng tự tổ chức học tập có vai trò quan trọng đối với người học, nó vừa là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều kiện làm cho mọi hoạt động học tập đạt kết quả cao, đồng thời là mục đích của DH, GD hiện nay. - TH không có hướng dẫn: Học sinh tiến hành tự học độc lập nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết riêng, bổ sung tri thức, mở rộng tri thức ngoài chương trình.
Vai trò của tự học [30] - Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học. Trong quá trình hoạt động dạy học GV không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức có sẵn, chỉ cần yêu cầu HS ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho HS tự mình khám phá ra những qui luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học. Giúp HS không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy. - Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập.
Có thể xem tính tích cực (hình thành từ NLTH) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại. Trong đó hoạt động TH là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực. Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập. Có hứng thú người học mới có được sự tự giác say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá.
Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác. - Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời. Bằng con đường TH mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp. Không có khả năng và PPTH, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng, … HS sẽ khó thích ứng do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt.
TH đáp ứng được phương châm “Học suốt đời” mà Hội đồng quốc tế về GD đã đề ra vào tháng 4 năm 1996. - Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường. Nó giúp khắc phục nghịch lý : học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối với HS miền núi, TH còn có ý nghĩa to lớn, luyện tập cho các em có thói quen lao động trí óc, rèn luyện phẩm chất tự giác, tự GD trong môi trường học tập và trong hoạt động thực tiễn sau này.
Với những lí do nêu trên có thể nhận thấy, nếu xây dựng được PPTH, đặc biệt là tính tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho HS. Năng lực tự học [32] 1. Khái niệm: NLTH chính là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao. Để bồi dưỡng cho HS NLTH, cần phải xác định rõ các NLTH đó là gì và biểu hiện của các NLTH đó để từ đó trong quá trình DH, GV sẽ hướng dẫn và tạo các cơ hội, điều kiện thuận lợi cho HS hoạt động nhằm phát triển các năng lực đó.