phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo kết quả nghiên cứu của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc xác lập các biện pháp tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo đức cho sinh viên các trường đại học Chƣơng 2: Thực trạng việc tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo đức cho sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội hiện nay Chƣơng 3: Biện pháp chủ yếu về tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo đức cho sinh viên các trường đại học hiện nay 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÁC LẬP CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG ĐẠO ĐỨC Ở CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Chúng ta đã biết, lịch sử phát triển giáo dục luôn gắn với lịch sử phát triển xã hội loài người. Mục tiêu của bất cứ một nền giáo dục phát triển nào cũng là đào tạo con người, những người có đủ năng lực và phẩm chất, có đức và có tài. Bất cứ nhà trường nào khi mang sứ mệnh giáo dục thế hệ trẻ, đều thông qua việc truyền thụ những tri thức, kinh nghiệm mà hình thành cho thể hệ trẻ nhân cách của thời đại.
Do đó khi nói đến quá trình giáo dục đại học của một nhà trường, người ta thường nói một cách vắn tắt, hình ảnh là “Dạy nghề” và “Dạy người”. Nói một cách khác, phạm trù giáo dục đạo đức luôn gắn với quá trình đào tạo. Chỉ có tiến hành giáo dục đạo đức, có chất lượng cao, các trường ĐH mới thực hiện được mục tiêu cao cả của mình. Chúng ta có thể thấy vấn đề nâng cao hiệu quả công tác giáo dục truyền thống đạo đức cho sinh viên các trường ĐH hiện nay đã được đề cập, nghiên cứu trong nhiều năm nay ở Việt Nam.
Tuy vậy chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu về cách phối hợp các biện pháp chủ yếu về tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo đức để nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường ĐH hiện nay, chuẩn bị tích cực cho việc đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội Việt Nam thế kỷ 21. Việc phối hợp các biện pháp tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo đức để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường ĐH hiện nay đang là những vấn đề thời sự cấp bách cần có đề tài nghiên cứu khoa học để giải quyết về cơ sở lý luận lẫn cơ sở thực tiễn. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số khái niệm công cụ nghiên cứu 1.
Đạo đức và giáo dục truyền thống đạo đức 1. Đạo đức Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” thì “đạo đức” là: “Phép tắc về quan hệ giữa người với người; giữa cá nhân với tập thể, với xã hội.” “Phẩm chất tốt đẹp của con người (sống có đạo đức)” [24, tr 96]. Theo tác giả Huỳnh Khái Vinh: “Đạo đức là một hình thái ý thức - xã hội bao gồm những nguyên tắc, qui tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa người với người” [25, tr 44]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì đạo đức có thể được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng.
“Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người với con người, với công việc, với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống. Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống, đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của cá nhân được xã hội hóa” [12, tr. Như vậy, đạo đức là luân lý, là chuẩn mực ứng xử tức là đã gắn khái niệm đạo đức với giá trị đạo đức, chuẩn mực đạo đức của xã hội. Theo tác giả Hà Nhật Thăng: “Khi những giá trị đạo đức biến thành nhận thức chung của mọi thành viên thì nó trở thành truyền thống, có sức mạnh vật chất điều chỉnh nhận thức và hành động chung của toàn xã hội.
Vì vậy đạo đức có vai trò, có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [18, tr 19]. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhưng trước hết phải hiểu đạo đức là “một hình thái ý thức xã hội”, là “thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của cá nhân được xã hội hóa” thì mọi hành vi ứng xử của con người với xã hội, với tự nhiên đều phản ánh đạo đức của mỗi người; đạo đức đó đều phản ánh những giá trị, những chuẩn mực mà người ta nhận thức. Như vậy với cá nhân, mỗi hành vi ứng xử đều phản ánh một giá trị dương (+), vì nó chỉ thể hiện sự thỏa mãn những nhu cầu, những nhận thức, tình cảm của cá nhân với xã hội. Nhưng với xã hội (tách khỏi chủ quan cá nhân) thì giá trị đó là âm (-) hay là dương (+) còn tùy thuộc vào chuẩn mực, qui tắc mà xã hội lúc đó qui định, thừa nhận.
Như vậy chúng ta cũng có thể hiểu khái niệm: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là thành phần cơ bản của nhân cách mỗi người. Nó phản ánh những chuẩn mực giá trị của mỗi hành vi ứng xử của mỗi người với công việc, với bản thân và môi trường sống theo nhận thức và đánh giá riêng của mỗi người với chuẩn mực chung của xã hội. Khái niệm đạo đức luôn gắn với giá trị đạo đức, chuẩn mực đạo đức. Giá trị đạo đức (chuẩn mực đạo đức) là thước đo giá trị cần có ở mỗi người, là những phẩm chất đạo đức có tính chuẩn mực, được nhiều người thừa nhận, được xã hội thừa nhận, xác định như một đòi hỏi khách quan.
Nó có giá trị định hướng chi phối, chế ước quá trình nhận thức, điều chỉnh thái độ, hành vi của mỗi người. Giá trị đạo đức bao gồm: tính khách quan, tính xã hội, tính thời đại, tính truyền thống. Khi nghiên cứu đạo đức, chúng ta phải nghiên cứu cơ chế vận hành của nó trong các quan hệ xã hội. Đạo đức với cơ chế vận hành trong các quan hệ xã hội.
Đạo đức bao giờ cũng gắn với các quan hệ xã hội nhất định và nó luôn luôn bị chi phối bởi 3 nhân tố (3 bộ phận) để hợp thành nên đặc điểm của mỗi người. Đó là: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Ý thức đạo đức: đó là những nhận thức của con người về các nguyên tắc, qui tắc đánh giá đạo đức của cá nhân, của xã hội, mối quan hệ của đạo đức với các hình thái ý thức xã hội khác (nghệ thuật, tri giác, triết học.) Đó là những nhận thức của con người về những chuẩn mực của hành vi, thói quen, phong tục đạo đức tác động mạnh đến tâm thế, tình cảm, hành vi của con người. + Hành vi đạo đức: ý thức đạo đức bao giờ cũng được thể hiện qua hành vi đạo đức, chi phối hành vi đạo đức. Hành vi đạo đức là biểu hiện của nhận thức, tình cảm đạo đức cá nhân và bị chi phối bởi các chuẩn mực đạo đức, qui tắc đạo đức của xã hội.
+ Tình cảm, niềm tin đạo đức: tình cảm, niềm tin đạo đức là hiệu quả của nhận thức, hành vi đạo đức. Có tình cảm đạo đức, niềm tin đạo đức đúng đắn là có động lực hình thành nhận thức và hành vi đúng phù hợp với các thước đo, các chuẩn mực, qui phạm của xã hội. Giáo dục truyền thống đạo đức Theo tác giả Phạm Minh Hạc về khái niệm giáo dục truyền thống đạo đức có thể hiểu: “Giáo dục đạo đức là một quá trình kết hợp nâng cao nhận thức với hình thành thái độ, xúc cảm, tình cảm, niềm tin và hành vi, thói quen đạo đức” [12, tr. Theo tác giả Hà Nhật Thăng: “Giáo dục đạo đức là hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh” [18, tr 209].
Từ quan niệm đúng đắn trên đây, chúng ta thấy giáo dục truyền thống đạo đức trước hết là một quá trình, không thể nóng vội, không thể áp đặt. Nó 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được diễn ra trong cả quá trình hình thành và phát triển nhân cách của một con người, không có điểm dừng. Mục tiêu của giáo dục truyền thống đạo đức trong nhà trường ĐH: Trang bị cho sinh viên những tri thức cần thiết về chính trị tư tưởng, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật, văn hóa xã hội. Hình thành ở mỗi sinh viên thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Rèn luyện để mỗi sinh viên tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành qui định của pháp luật, nỗ lực học tập, rèn luyện tích cực, cống hiến sức lực, trí tuệ cho dân cho nước. Chúng tôi quan niệm một số SV chưa đạt chuẩn mực theo quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh, sinh viên các cơ sở giáo dục đại học và trường trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy (Ban hành kèm theo Quyết định số 60 /2007/QĐ-BGDĐT ngày16 tháng 10 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) được nghiên cứu, đề cập trong luận văn này là những sinh viên còn đang theo học nhưng thường vi phạm các chuẩn mực đạo đức ở ba mức độ sau: Mức 1: Trong sinh hoạt, học tập hàng ngày: vi phạm nhiều lần nội quy, quy chế, điều lệ nhà trường, vi phạm những chuẩn mực đạo đức của người con trong gia đình và người công dân ngoài xã hội. Những vi phạm này còn ở mức độ nhẹ (có sai, có sửa rồi lại mắc). Mức 2: Những hành vi, thái độ sai lệch tương đối nghiêm trọng: đàn đúm bạn bè, bỏ học sống buông thả nhiều ngày hoặc thường xuyên gây gổ, xung đột với mọi người; mắc các tệ nạn xã hội nghiêm trọng.
Nhưng những sinh viên này vẫn còn chấp nhận sự giáo dục của nhà trường. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.