phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lí GDKNS cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh. Chƣơng 2: Thực trạng quản lí GDKNS cho học sinh ở trường tiểu học Lý Thường Kiệt - Quận Đống Đa - Thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Một số giải pháp quản lí GDKNS cho học sinh trường tiểu học Lý Thường Kiệt - Quận Đống Đa - Thành phố Hà Nội thông qua hoạt động Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG HỒ CHÍ MINH 1. Sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu vấn đề Xã hội hiện đại có sự thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội và lối sống với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây con người chưa gặp, chưa trải nghiệm, chưa phải ứng phó, đương đầu.
Hoặc có những vấn đề đã xuất hiện trước đây, nhưng nó chưa phức tạp, khó khăn và đầy thách thức như trong xã hội hiện đại, nên con người dễ hành động theo cảm tính và không tránh khỏi rủi ro. Nói cách khác, để đến bến bờ thành công và hạnh phúc trong xã hội hiện đại, con người cần phải có kĩ năng sống. Vì vậy, kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho mọi người mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình GDKNS phù hợp (mục tiêu 3) và kĩ năng sống của người học là một tiêu chí của chất lượng giáo dục. Cho nên, trong mục tiêu 6 của chương trình đã coi kĩ năng sống là một khía cạnh của chất lượng giáo dục.
Đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến những tiêu chí đánh giá kĩ năng sống của người học. Như vậy tiến hành giáo dục KNS để nâng cao chất lượng giáo dục. Nhu cầu vận dụng kĩ năng sống một cách trực tiếp, hay gián tiếp được nhấn mạnh trong nhiều khuyến nghị mang tính quốc tế, bao gồm cả trong Diễn đàn giáo dục cho mọi người (thể hiện trong chương trình hành động Dakar) trong việc thực hiện Công ước Quyền trẻ em; trong Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển và giáo dục cho mọi người. Gần đây nhất là trong Tuyên bố về cam kết của Tiểu ban đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS (tháng 6 năm 2001), các nước đó đồng ý rằng “Đến năm 2005 đảm bảo rằng ít nhất có 90% và vào năm 2010 ít nhất có 95% thanh niên và phụ nữ tuổi từ 15 đến 24 có thể tiếp cận thông tin, giáo dục và dịch vụ cần thiết để phát triển kĩ năng sống để giảm những tổn thương do sự lây nhiễm HIV” (Nguồn: Unicef life skills ).
Cũng tại Diễn đàn Giáo dục Thế giới Dakar, tháng 5/2000 trường học thân thiện với người học được phản ánh trong quan điểm toàn diện về chất 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lượng được nêu trong Khuôn khổ Hành động Dakar. UNESCO và UNICEF đó nhận thấy mô hình “trường học thân thiện” với các yếu tố của nó là một giải pháp nâng cao chất lượng và đảm bảo công bằng giáo dục. Vì vậy mô hình này đó được phổ biến, áp dụng ở 40 quốc gia trên thế giới. Trong mô hình trường học thân thiện tiêu chí giáo dục KNS vừa như là một biểu hiện của chất lượng giáo dục, vừa để giúp HS sống an toàn.
Ở Việt Nam, một trong những cơ sở nghiên cứu đưa GDKNS vào giáo dục đào tạo, trước hết là bậc tiểu học là “Trung tâm nghiên cứu giáo dục đạo đức công dân”, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam. Để đổi mới giáo dục đào tạo năm 2000, trung tâm đã cử cán bộ tiếp cận với chương trình GDKNS và tích hợp vào chương trình môn Đạo đức ở tiểu học và môn Giáo dục công dân cũng như chương trình Hoạt động GDKNSở trường phổ thông (từ tiểu học đến THPT) ngay từ năm 1998. Một trong những người có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kĩ năng sống và GDKNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Tác giả và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức về kĩ năng sống và đề xuất yêu cầu tiếp cận kĩ năng sống trong giáo dục và GDKNS ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng GDKNS cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông qua giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó xác định thách thức và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh GDKNS ở Việt Nam trên cơ sở thực tiễn ở Việt Nam và đối chiếu với mục tiêu 3 và mục tiêu 6 của Chương trình hành động Dakar (Trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện chiến lược và chương trình giáo dục với UNESCO tại Hà Nội). Trên cơ sở phân tích, so sánh, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tổng hợp, khái quát hoá qua nghiên cứu 2 chu kì đề tài cấp Bộ về Giáo dục KNS cho học sinh THPT.tác giả Nguyễn Thanh Bình đã xây dựng được khung lí luận về giáo dục KNS từ xác định thuật ngữ, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, phương pháp giáo dục cho đến đánh giá kết quả và tác động của giáo dục KNS. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số kết quả nghiên cứu khác có giá trị quan trọng trong việc lập quan điểm phương pháp luận cũng như định hướng và tiếp cận trong việc nghiên cứu kĩ năng sống, GDKNS cho thế hệ trẻ. Đó là các nghiên cứu của các tác giả Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Hạc nhưng không trực tiếp đề cập đến vấn đề kĩ năng sống, GDKNS như đối tượng nghiên cứu.
Ngành giáo dục đã triển khai chương trình GDKNS vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy. Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu GDKNS. Theo đó, các nội dung GDKNS được triển khai theo các cấp học như: + Chương trình cải cách của giáo dục mầm non (1994) đã chú ý đến giáo dục hành vi, kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp ứng xử. Chương trình khung chăm sóc giáo dục trẻ đã chú trọng các nội dung như: phát triển thể chất, nhận thức, phát triển ngôn ngữ, tình cảm, nghệ thuật của trẻ.
+ GDKNS ở bậc tiểu học tập trung vào các kĩ năng chính, kĩ năng cơ bản như đọc, viết, tính toán, nghe, nói; coi trọng đúng mức các kĩ năng sống trong cộng đồng, thích ứng với những thay đổi diễn ra hàng ngày trong xã hội hiện đại, hình thành các kĩ năng tư duy sáng tạo, phê phán, giải quyết vấn đề, ra quyết định, trí tưởng tượng. Với các bậc học trên, việc GDKNS được chủ yếu thông qua chương trình các môn học và các hoạt động GDKNScủa nhà trường cùng với một số chương trình dự án do nước ngoài tài trợ. Tuy nhiên, theo tác giả Hà Nhật Thăng: “GDKNS cho học sinh là một quá trình tổ chức hoạt động bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau thông qua nhiều lực lượng xã hội nhằm giúp các em có hiểu biết về những việc cần phải làm, phải tránh, đặc biệt giúp các em rèn luyện để có kĩ năng ứng xử phù hợp với các tình huống tốt, xấu có thể gặp trong cuộc sống. ” Hơn nữa, qua tập hợp nghiên cứu, phân tích tổng hợp và tổng quan vấn đề từ việc khảo sát các đề tài liên quan ở trong nước và có thể đưa ra nhận định: - Chủ yếu các đề tài phân tích làm rõ tính cấp bách của vấn đề kĩ năng sống, GDKNS chưa tập trung giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu lý luận một 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách có hệ thống về phương pháp, hình thức GDKNS cho học sinh, sinh viên nói chung và học sinh tiểu học nói riêng.
- Các đề tài đã đề cập đến những hình thức GDKNS cụ thể và chưa có kết quả thử nghiệm rõ ràng, cụ thể nên tính thuyết phục chưa cao. - Hoạt động Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh vốn có rất nhiều hoạt động rèn luyện KNS và có ưu thế thực hiện GDKNS theo mục tiêu giáo dục tiểu học. Nếu quản lí nhà trường đổi mới hoạt động Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, tích hợp những kĩ năng sống cần giáo dục vào hoạt động Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh để học sinh lựa chọn, trải nghiệm và phát huy vài trò của mình với tập thể và xã hội, rèn cho các em lối sống biết tôn trọng, yêu quý tập thể, hình thành tác phong nhanh nhẹn và nề nếp kỉ luật thì hiệu quả chất lượng GDKNS sẽ được nâng cao. GDKNS là việc đòi hỏi sự tham gia của rất nhiều lực lượng xã hội bao gồm cả gia đình, nhà trường, và xã hội và bằng nhiều hình thức khác nhau.
Tuy nhiên, việc GD KNS tại các trường học chỉ mới dừng lại ở trên lớp, trong các tiết học như: Đạo đức, Tự nhiên xã hội.hay sự lồng ghép trong một số hoạt động GDKNS. Mục đích của GDKNS cho học sinh trong giờ giảng, trong các hoạt động chưa được xác định đúng mức, rõ ràng vì thế hiệu quả của việc GDKNS cho các em còn nhiều hạn chế. Do vậy, cần thiết phải khai thác nội lực của chính hoạt động Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh nhằm thực hiện có hiệu quả nội dung giáo dục KNS cho học sinh ở bậc tiểu học. Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài 1.1 Quản lí Khái niệm “quản lí” thuộc về những khái niệm chung nhất, tổng hợp nhất, nó bao hàm cả quản lí xã hội, quản lí các quá trình sinh vật và quản lí cả máy móc, quản lí cơ chế ở những dạng khác nhau.
Trong dạng chung nhất: Quản lí là quá trình tác động đến hệ thống nhằm mục đích chuyển hệ thống vào trạng thái mới, trên cơ sở sử dụng những quy luật khách quan thuộc về hệ thống đó. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chính vì thế quản lí được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và được định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau: - Cách tiếp cận theo thực tiễn: Trên cơ sở phân tích sự quản lí bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm thông thường qua các trường hợp cụ thể.