CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO SINH VIÊN CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG 1. Tổng quan nghiên cứu về QLHĐGDKNS 1. Nghiên cứu ngoài nước Giáo dục KNS là một bộ phận quan trọng trong quá trình giáo dục phát triển nhân cách con người. Nhân cách là kết quả của văn hóa thông qua hệ giá trị chuẩn mực, quan niệm về thế giới quan và nhân sinh quan, biểu hiện thành tư tưởng và chuẩn mực đạo đức, tình cảm niềm tin tác động đến những hành vi ứng xử của con người trong cộng đồng xã hội.
Phát triển nhân cách con người chính là tạo ra nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội cho mỗi quốc gia. Trong xu thế hội nhập toàn cầu, đất nước nào xây dựng và bồi đắp cho thế hệ trẻ có được những KNS đúng đắn, phù hợp với thời đại mà vẫn giữ được những nét văn hóa của dân tộc mình thì đất nước đó sẽ phát triển bền vững, lâu dài. Trên thế giới, đặc biệt là những nước phương Tây, KNS đã được chú trọng phát triển từ rất lâu. Mô hình giáo dục của Pháp thế kỷ XXI theo đề xuất của Edgard Morin là phải giảng dạy về hoàn cảnh con người (hiểu rõ con người là gì, con người sống và hoạt động như thế nào trong điều kiện nào, con người xử lý bằng cách nào) và học cách sống.
Triết lý giáo dục Mỹ đầu thế kỷ XXI cũng cho rằng: Cần nâng cao kỹ năng giao lưu qua nói, viết, đọc, nghe, cần phát triển khả năng suy ngẫm… Còn ở Châu Á, người Nhật với mô hình không đánh giá học sinh, sinh viên qua năng lực hiểu các môn học mà đánh giá khả năng giải quyết các vấn đề của đời sống thực tiễn, khả năng làm chủ bản thân trong tự nhiên và xã hội [2]. Tại Úc, Hội đồng kinh doanh Úc (The BusinessCouncil of Australia BCA) và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (The Australia Chamber of Commerce anh Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the Department of Education, Science and Training – DEST ) và Hội đồng giáo dục Quốc gia Úc (The Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn sách “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” năm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có. Kỹ năng hành nghề là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức.
Các kỹ năng hành nghề bao gồm có 8 kỹ năng sau: Kỹ năng giao tiếp Kỹ năng làm việc đồng đội Kỹ năng giải quyết vấn đề Kỹ năng sang tạo và mạo hiểm Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc Kỹ năng quản lý bản than Kỹ năng học tập Kỹ năng công nghệ Còn tại Mỹ, cũng đã có một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc của Bộ Lao động Mỹ (The U. Department of Labor) với Hiệp hội Đào tạo và phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) đã đưa ra 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc: Kỹ năng học và tự học Kỹ năng lắng nghe Kỹ năng thuyết trình Kỹ năng giải quyết vấn đề Kỹ năng tư duy sang tạo Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn Kỹ năng đạt mục tiêu, tạo động lực làm việc Kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp Kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ Kỹ năng làm việc đồng đội Kỹ năng đàm phán Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kỹ năng lánh đạo bản thân Tại Canada cũng có riêng một bộ phụ trách về việc phát triển kỹ năng cho người lao động. Bộ phát triển nguồn nhân lực và Kỹ năng Canada (Human Resources and Skills Development Canada - HRSDC) có nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực mạnh và có năng lực cạnh tranh, giúp người Canada nâng cao năng lực ra quyết định và năng suất làm việc để nâng cao chất lượng cuộc sống. Bộ này cũng có những nghiên cứu đưa ra danh sách các kỹ năng cần thiết đối với người lao động.
Tổ chức Conference Board of Canada – đây là một tổ chức chuyên nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế cũng như năng lực hoạt động của các tổ chức và các vấn đề chính sách công cộng đã đưa ra danh sách 6 kỹ năng hành nghề cho người lao động ở thế kỷ 21 như sau: Kỹ năng giao tiếp Kỹ năng giải quyết vấn đề Kỹ năng tư duy và hành vi tích cực Kỹ năng thích ứng Kỹ năng làm việc với con người Kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán Ở khu vực châu Á những năm gần đây KNS cũng đã được chú trọng phát triển. Tháng 12/2003 tại Bali – Indonesia đã diễn ra hội thảo về giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy với sự tham gia của 15 nước. Qua báo cáo ở các nước cho thấy có nhiều điểm chung nhưng cũng có nhiều điểm riêng trong quan niệm về giáo dục KNS của các nước. Mục tiêu của giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy ở Hội thảo Bali là “nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu sự thay đổi các tình huống của cuộc sống hàng ngày đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống [6] Ở Lào, giáo dục KNS được lồng ghép vào chương trình đào tạo chính quy, không chính quy và trường sư phạm đào tạo giáo viên từ năm 1997.
Tại Campuchia, chương trình giáo dục chính quy đã được thực hiện việc tích hợp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dạy KNS vào bài học của các môn cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12. Tại Malaysia, bộ giáo dục coi KNS là môn kỹ năng của cuộc sống [6] Những nghiên cứu về HĐGDKNS và quản lý HĐGDKNS trên thế giới rất phong phú. Theo tổng thuật của UNESCO có thể khái quát những nét chính trong các nghiên cứu này như sau: Nghiên cứu xác định mục tiêu giáo dục KNS; nghiên cứu xác định chương trình và hình thức giáo dục KNS. Các chương trình và tài liệu về giáo dục KNS được thiết kế cho giáo dục không chính quy là phổ biến và rất đa dạng về hình thức.
Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam từ xa xưa, các nhà giáo dục cũng coi trọng việc giáo dục đạo đức thông qua việc dạy “làm người” của đạo thánh hiền. Ngày nay giáo dục KNS, đạo đức sống vẫn là nội dung mà toàn xã hội quan tâm. Đặc biệt là trong bối cảnh “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Phát triển nhanh chóng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”.
Kế thừa và phát huy các quan điểm chỉ đạo trước đây của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã nêu rõ mục tiêu: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển’’ [8] Thuật ngữ “KNS” bắt đầu xuất hiện trong nhà trường Việt Nam từ những năm 1995-1996, thông qua dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do quỹ nhi đồng liên hợp quốc (UNICEEF) phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện. Năm học 2002-2003, Bộ giáo dục và Đào tạo với sự hỗ trợ của tổ chức UNICEF đã xây dựng chương trình “Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS” cho học sinh trung học cơ sở với 9 chủ đề giáo dục: HIV/AIDS, xâm hại tình dục, ứng phó với tình huống căng thẳng, quyền trẻ em, sống khỏe mạnh, thuốc lá 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rượu bia, ma túy, sức khỏe sinh sản vị thành niên, các bệnh lây qua đường tình dục. Ngoài các chương trình dự án do Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữa Việt Nam.thực hiện, còn có một số tổ chức quốc tế đang triển khai chương trình giáo dục KNS tại Việt Nam như Quỹ dân số thế giới của Hà Lan (WPF), Quỹ nhi đồng Mỹ (Save the childent Java) tại Việt Nam, quỹ Nhi đồng Úc (CCF Australia).
Các chương trình dự án trên khá đa dạng nhưng chủ yếu tập trung vào “các nhóm yếu thế và nhóm có nguy cơ cao”. Nội dung giáo dục KNS đã tính đến sự phù hợp với đối tượng, vùng và địa phương. Việc nghiên cứu KNS nói chung và quản lý hoạt động giáo dục KNS nói riêng vẫn còn rất hạn chế. Tuy nhiên trong những năm gần đây khi xã hội phát triển, các vấn đề thuộc về KNS phát sinh theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực.
Điều này đã thu hút sự chú ý của cả xã hội, và các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu về tâm sinh lý đã có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này. Công trình nghiên cứu của Hà Nhật Thăng với nhiều năm nghiên cứu về lĩnh vực này, vào năm 1998 ông đã cho xuất bản cuốn sách “Giáo dục hệ thống đạo đức nhân văn”. Cuốn sách đã cung cấp những giá trị về hệ thống giá trị cốt lõi, đó là cơ sở cơ bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ trẻ có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi, phù hợp với yêu cầu của xã hội và của thời đại Tác giả Nguyễn Như Ý với nghiên cứu “Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây trong giai đoạn hiện nay” đã khẳng định hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với nội dung, hình thức phong phú sẽ là phương thức để thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng “Học đi đôi với hành”.