CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu tìm ra các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học nói chung và việc quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học của giáo viên ở trường THPT là một vấn đề luôn mang tính thời sự và không đơn giản. Bởi lẽ, công tác quản lý hoạt động dạy học cho mỗi cấp học, bậc học, cho mỗi trường, mỗi địa phương, vùng, miền.là khác nhau. Mặt khác, các biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học giáo viên ở trường THPT phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu khoa học của nhiều ngành, phụ thuộc vào đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý từng giai đoạn.và cả kinh nghiệm cũng như năng lực của nhà quản lý của bộ máy quản lí của nhà trường cụ thể.
Do đó việc tổng kết kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động dạy học là việc làm cần thiết nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho các nhà quản lý. Trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lý luận dạy học, lý luận quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng ở các cơ sở GD&ĐT. Các công trình nghiên cứu này đã được xuất bản thành các sách chuyên đề hoặc được chuyển tải dưới dạng chuyên đề cho cao học QLGD. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả hàng đầu Việt Nam xung quanh vấn đề này như các tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Đức Chính, Trần Khánh Đức, Đặng Xuân Hải, Nguyễn Trọng Hậu, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Quang Sáng, Bùi Đức Thiệp, Phạm Viết Vượng.
Một số hội thảo trong thời gian qua cũng đề cập đến vấn đề nêu trên, điển hình là hội thảo của Khoa Sư Phạm (tiền thân ĐHGD) với tiêu đề “Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học (10/2004) hay trong các bài 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viết của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Đức Chính, “Chuẩn và chuẩn hoá trong giáo dục-Những vấn đề lí luận và thực tiễn”, Tham luận Hội thảo “Chuẩn và Chuẩn hoá trong giáo dục - Những vấn đề lí luận và thực tiễn- Hà Nội 2 1 2005 hoặc như bài viết của Hồ Viết Lương (2005), Chuẩn quốc gia về giáo dục phổ thông - thách thức lớn trong lí luận chương trình dạy học của giáo dục hiện đại, Kỷ yếu Hội thảo chuẩn và chuẩn hoá trong giáo dục - Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục.Trong các luận văn thạc sỹ những năm gần đây cũng đã có những nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như luận văn của tác giả Bùi Thanh Bình (2008) với “Biện pháp quản lý hoạt động dạy của Hiệu trưởng ở trường Trung học phổ thông Hải An - Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay”; đề tài: “ Một số giải pháp nâng cao năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên trường THCS Khánh Bình đến năm 2015” của tác giả Nguyễn Long Giao. Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên tiểu học và QL đội ngũ này, đã có một số công trình nghiên cứu như: đề tài: " Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đáp ứng yêu cầu Chuẩn nghề nghiệp GVTH" của tác giả Nguyễn Mạnh Tuân, hay đề tài: "Biện pháp quản lý bồi dưỡng GVTH thành phố Nam Định đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp" của tác giả Dương Thị Minh Hiền,. đã cho chúng tôi thêm những kinh nghiệm quý báu trong việc hoàn thiện luận văn của mình. Các tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng GV theo hướng chuẩn hóa ở các nhà trường.
Một số khái niệm cơ bản và quan niệm của đề tài 1. Giáo viên Theo từ điển Tiếng việt định nghĩa: “Giáo viên là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương”. Tại điều 70 Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ về nhà giáo và những tiêu chuẩn của nhà giáo 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác.
Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây. Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt. Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ. Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp.
Lý lịch bản thân rõ ràng. Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp được gọi là giáo viên; ở cở sở giáo dục Đại học được gọi là giảng viên [38, tr. Theo luật giáo dục được sửa đổi, bổ sung đã được Quốc Hội thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2009 và quy định hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng năm 2010. Trong luật đã bổ sung 5 điều mới, sửa đổi bổ sung liên quan đến 24 điều (trên tổng số 120 điều).
Trong đó, sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 70: “Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non; giáo dục phổ thông; giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên. Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi là giảng viên”. Giáo viên trường trung học: Điều 30, Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (ban hành kèm theo quyết định số 0 200 QĐ – BGD và ĐT ngày 02 4 200 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT ) nêu rõ: “ Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường gồm: Hiệu Trưởng, Phó Hiệu Trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (Bí thư, Phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn đối với trường trung học có cấp THPT).15] Trình độ chuẩn đào tạo của giáo viên trường THPT được quy định như sau: có bằng tốt nghiệp ĐHSP hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm theo đúng chuyên ngành tại các khoa trường ĐHSP. Biện pháp quản lý 1.
Quản lý Theo Từ điển Giáo dục học: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) tới khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [45]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối đa các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [12, tr 9]. Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “Quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “Lý” gốm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển”. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ bị trì trệ, ngược lại nếu chỉ quan tâm đến việc “Lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững.
Do vậy người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn được ở trạng thái cân bằng động. Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Trong giáo dục nhà trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể GV, học sinh và các lực lượng khác nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục. Bản chất của hoạt động quản lý có thể mô hình qua sơ đồ sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Mô hình quản lý Công cụ Chủ thể quản lý Đối tượng quản lý Phương pháp Trong đó: Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức.
Khách thể (đối tượng) quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người khác nhau. Công cụ quản lý và phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý như: Mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ… Phương pháp quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau. Nó có thể là do nhà quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Quản lý có bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Các chức năng chính của hoạt động quản lý luôn được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trình quản lý. Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn, nó vừa là điều kiện vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện chức năng quản lý và ra quyết định quản lý. Tác giả Nguyễn Quốc Chí đã nhấn mạnh vai trò của thông tin trong quản lý: “ không có thông tin không có quản lý ” Mối liên hệ các chức năng quản lý được thực hiện qua sơ đồ sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Quan hệ các chức năng quản lý Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo 1. Biện pháp quản lý Biện pháp: theo từ điển Tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên, biện pháp là “cách làm, cách thức tiến hành”.
Biện pháp là cách thức hành động để thực hiện một mục đích, là cách làm giải quyết một vấn đề cụ thể. Biện pháp là một bộ phận của phương pháp, điều đó có nghĩa là để sử dụng một phương pháp nào đó phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, cùng một biện pháp có thể sử dụng trong nhiều phương pháp. Biện pháp quản lý là cách thức tác động vào đối tượng quản lý giúp chủ thể nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đề ra. Các biện pháp được đánh giá theo các tiêu chí sau: Tính thừa kế: không làm sáo trộn, hay quá thay đổi cái đã có mà kế thừa có chọn lọc.