Chương 1: Cơ sở lý luâ ̣n của công tác quản lý HĐDH môn Hoá học ở trường THPT. - Chương 2: Thực tra ̣ng quản lý HĐDH môn Hóa ho ̣c ở trư ờng THPT trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Hà Nội. - Chương 3: Biê ̣n pháp tăng cường quản lý HĐDH môn Hóa học ở trường THPT trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Hà Nội. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN HOÁ HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Ngay từ khi mới xuất hiện trên trái đất, để tồn tại con người phải lao động. Trong lao động và cuộc sống hàng ngày con người nhận thức thế giói xung quanh, dần dần tích luỹ được kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lao động và trinh phục thiên nhiên, từ đó nảy sinh ra nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau. đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng GD. Lúc đầu GD xuất hiện như một hiện tượng tự phát, diễn ra đơn giản theo lối bắc chước, về sau GD trở thành một hoạt động tự giác có ý thức.
Con người dần biết xác định mục đích, hoàn thiện nội dung và tìm ra các phương thức để tổ chức quá trình GD. Giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau, trong đó, con đường quan trọng nhất là tổ chức DH trong nhà trường nhằm giúp cho HS nắm vững tri thức khoa học và kinh nghiệm xã hội, hình thành phương pháp tư duy năng động sáng tạo và kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống. Lịch sử giáo dục thế giới đã ghi nhận A. Cômenxki người Tiệp Khắc (1592 - 1670) là “Ông Tổ của nền giáo dục cận hiện đại” [20].
Ông đã nêu lên hệ thống lý luận giáo dục, những nguyên tắc sư phạm. Ông yêu cầu giáo dục phải hệ thống, phải toàn diện. “dạy hết thẩy mọi điều cho hết thẩy mọi người”, phải “thích ứng với tự nhiên”, phải xuất phát từ đặc điểm nhận thức của trẻ, phải xuất phát từ tính thống nhất của thế giới… Ông là người sáng lập ra hệ thống trường, lớp; học tập theo niên học, bài học phù hợp với lứa tuổi, phù hợp với trình độ… Ngay sau khi lý luận GD, dạy học của Cômenxki ra đời đã được ứng dụng vào quá trình phát triển giáo dục ở các nước châu Âu và nó đang tồn tại cho đến ngày nay. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục đối với sự phát triển lực lượng lao động, cuộc cách mạng giáo dục lần thứ nhất được thực hiện trên phạm vi toàn cầu từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XX, mục tiêu nổi bật của nó là phát triển GD nhà trường kể cả phổ thông, nhưng ưu tiên cho phát triển giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp, dạy nghề.
Trọng tâm là đổi mới dạy học các môn khoa học tự nhiên, dạy các môn kỹ thuật nhằm đào tạo một nguồn lực lao động có khả năng sáng tạo, phát minh khoa học kỹ thuật, đồng thời phải có một lực lượng lao động kỹ thuật lành nghề trên nhiều lĩnh vực sản xuất xã hội. Việc nâng cao chất lượng DH trong nhà trường nói chung và nhà trường phổ thông nói riêng từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Chất lượng DH phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quản lý HĐDH nói chung và quản lý HĐDH bộ môn nói riêng giữ vai trò rất quan trọng. Do đó, quản lý HĐDH bộ môn là một nội dung được nhiều người quan tâm nghiên cứu.
Trong những năm 80, nhiều nhà sư phạm như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Kỳ, Thái Duy Tuyên, Trần Kiều, Hồ Ngọc Đại …đã tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề về tổ chức quá trình DH, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng DH trên lớp đối với việc nâng cao chất lượng DH. Những ưu điểm và nhược điểm của hình thức tổ chức DH trên lớp, vai trò của người dạy và người học; cách tiến hành các hình thức tổ chức DH trên lớp. Bước sang thế kỉ XXI, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, GD và QLGD được đánh giá là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần phát triển đất nước. Các nghiên cứu về QL và QLGD ngày càng phong phú, đa dạng gắn liền với các tác giả tên tuổi như Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Đức Chính, Trần Khánh Đức, Phạm Minh Hạc, Đặng Xuân Hải, Nguyễn Trọng Hậu, Đặng Bá Lâm, Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Quang Sáng, Bùi Đức Thiệp, Phạm Viết Vượng .Điểm chung mà các tác giả 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể hiện trong các công trình nghiên cứu là: khẳng định vai trò quan trọng của công tác QL trong việc nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp học.
Đây cũng chính là một trong những tư tưởng mang tính chiến lược về phát triển giáo dục của Đảng ta. Các tác giả trên đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý HĐDH bộ môn ở các nhà trường, đồng thời giúp cho tác giả luận văn nghiên cứu định hướng nghiên cứu đề tài của mình. Một số tác giả luận văn của các khóa trước như: Cao Thị Thanh Mai với ”Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định theo hướng chuẩn hóa, năm 2004”, Trần Thanh Hải với ”Những biện pháp quản lý hoạt động của tổ chuyên môn để nâng cao chất lượng DH ở các trường THPT huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, năm 2005” ; Trần Thị Thanh Mai, Biện pháp quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên tại các trường trung học phổ thông thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc, 2008 ; Hoàng Thị Kim Hoạt với ”Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn, năm 2010”.đã giúp cho tôi thêm kinh nghiệm nghiên cứu đề tài“Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Hoá học ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Hà Nội”. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1.
Quản lý Mọi hoạt động của đời sống xã hội đều cần tới quản lý. QL vừa là khoa học vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển hệ thống xã hội ở mọi cấp độ. Ở đâu có tập thể, có tổ chức là ở đó có QL. QL xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung.
Marx đã nói đến sự cần thiết của QL: “Bất kỳ lao động nào có tính xã hội và chung, trực tiếp được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý. một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [16, tr. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có nhiều định nghĩa về QL. Mary Parker Follett định nghĩa QL như là một ”nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua con người”.
”Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong mộ tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích. Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”[3, tr. Kế hoạch hoá: là một chức năng cơ bản của QL, kế hoạch hoá có nghĩa là xác định MT, mục đích, đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Tổ chức: là quá trình hình thành nên cấu trúc, quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Chỉ đạo (lãnh đạo): bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Kiểm tra, đánh giá: chức năng liên quan đến mọi cấp QL để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống. Thông qua chức năng này một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Từ các định nghĩa trên có thể thấy, mặc dù các tác giả có nhiều cách tiếp cận khác nhau về QL nhưng họ đều thống nhất về bản chất của hoạt động QL với một số đặc điểm sau: - Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố chủ thể QL (người QL, tổ chức QL); khách thể QL (người bị QL, đối tượng QL) gồm: con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng; mục tiêu của công tác QL do chủ thể QL áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể QL và khách thể QL; công cụ QL; 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương pháp QL. Chủ thể QLvà khách thể QL luôn luôn có quan hệ tác động qua lại và chịu tác động của môi trường.
- Bản chất của hoạt động QL là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra. CCQL CTQL KTQL MT PPQL *) Ghi chú: CCQL: Công cụ quản lý; CTQL: chủ thể quản lý; KTQL: Khách thể QL; PPQL: Phương pháp QL; MT: Mục tiêu QL - Tác động QL thường mang tính tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau. Vì vậy, trong QL không thể tuân thủ theo những quy định cứng nhắc mà phải linh hoạt, mềm dẻo. QL vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật.
Là một khoa học vì các hoạt động QL luôn là một hoạt động có tổ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể. QL đồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động QL là một hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động. Không có một nguyên tắc chung nào cho mọi tình huống.