CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY KHÁI QUÁT HÓA CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀI TẬP HÓA HỌC 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới KQH được xem như một thao tác của TD.
Đã từ lâu, KQH, NLTDKQH được đề cập và nghiên cứu chủ yếu trong Tâm lí học và Giáo dục học. Trong lĩnh vực Tâm lý học, KQH, NLTDKQH được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau: Giai đoạn trước năm 1950 đại diện là thuyết liên tưởng của tác giả như Đ.Um, Giêm Prinxtli, A. Bên…,trong đó tiêu biểu là Claparet- khi ông cho rằng “KQH là sự tổng hợp đặc điểm của các sự vật hiện tượng, bản chất là thuyết mò mẫm, là quá trình ngẫu nhiên, là hình thức cơ bản của mọi động vật để thích ứng với môi trường biến động, mò mẫm không có hệ thống là đặc trưng của trí thông minh kinh nghiệm, còn mò mẫm hệ thống là đặc trưng của trí tuệ thông minh đúng với tên gọi của nó”. Giai đoạn từ năm 1950 đến 1980, đại diện là G.Piagiê cho rằng, KQH thông qua sơ đồ hành động, đây được xem như là dạng sơ khai, KQH vẫn là quá trình ngẫu nhiên.
Giai đoạn từ 1980 đến nay có rất nhiều nhà Tâm lí học như LX. nghiên cứu cho rằng “KQH là NL cao nhất trong những NL của TD. NL này được hình thành và phát triển thông qua việc so sánh, phân tích, tổng hợp các đặc điểm của sự vật, hiện tượng, từ đó đưa ra những nhận định, phán đoán về chúng rồi KQH thành khái niệm” [84; tr 146-202], [14;tr 10]. Như vậy, trong lĩnh vực Tâm lí học các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào những nghiên cứu lí luận mà chưa chỉ ra con đường phát triển NLTDKQH cụ thể.
Trong lĩnh vực Giáo dục học, việc nghiên cứu về KQH, NLTDKQH cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Giai đoạn trước năm 1980, đại diện là P.Ganierin cho rằng “KQH là một trong những tinh chất cơ bản, quyết định chất lượng của hành động, thể hiện quá tính khái quát của cơ sở định hướng hành động và tính khái quát của bản thân thành đảng [20; tr 361-370]. Giai đoạn từ năm 1980 đến nay, đại diện là G. cho rằng “KQH phát triển từ cảm tỉnh đến hình tượng và khái niệm, cuối cùng là khái niệm trừu tượng KQH thể hiện luan an 7 trong sự phân loại nội dung giảng dạy và được hình thành trong hoạt động dạy học, dựa vào nội dung các môn học và phương pháp dạy học” [17].
Những kết quả này cho thấy trong lĩnh vực giáo dục chưa có những nghiên cứu đề xuất quy trình và biện pháp rèn NLKQH cho HS, đây là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn trong thời gian tới. Nghiên cứu về cấu trúc NLTDKQH cũng đã được nhiều tác giả quan tâm. Nhưng chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến cấu trúc NLTDKQH một cách cụ thể. Những nghiên cứu đã có mới chỉ đề cập đến cấu trúc NLTDKQH thông qua các con đường hay cách thức KQH cụ thể như: Theo LX.Vypotsky (1956), khi đề cập đến mức độ KQH bao gồm KQH cụ thể tổng hợp, KQH tổ hợp, KQH khái niệm, tác giả đã đề cập đến cấu trúc NLTDKQH là tìm hiểu đặc điểm các sự vật, hiện tượng theo sự gần gũi gửi về không gian, màu sắc đã đập vào mắt.
Nhóm các đặc điểm của các sự vật, hiện tượng căn cứ vào liên hệ có thực của chúng rồi qui chiếu vào các đối tượng cụ thể TD tổ hợp gắn chặt các sự vật, hiện tượng được tri giác vào các nhóm [84; tr 228-234]. Như vậy, theo LX.Vygotsky thì để KQH cần có quá trình phân tích, tổ hợp và KQH thành khái niệm. Ozahecrh (1980) [34] khi nghiên cứu về TD logic đã khẳng định “để có TD này thì yêu cầu chủ thể phải có kĩ năng (KN) rút ra các hệ quả từ những tiến đề cho trước; KN phân chia những trường hợp riêng biệt và hợp chúng lại; KN dự đoán kết quả cụ thể bằng lí thuyết, KN tổng quát những kết quả đã thu được. Tác giả đã làm nổi bật TD logic đặc trưng bởi KN đưa ra hệ quả từ những tiên đề, KN phân chia những trường hợp riêng biệt và hợp chúng lại để được đối tượng đang xét; KN khẳng định lí thuyết từ một kết quả cụ thể hoặc tổng quát những kết quả thu được”.
Như vậy, theo B. Ozahecrh, các KN cần có trong quá trình KQH là: “Phân chia những trường hợp riêng biệt và hợp chúng; rút ra kết quả từ những tiền để cho trước; dự đoán kết quả cụ thể bằng lí thuyết; tổng quát những kết quả đã thu được. KN phân chia những trường hợp riêng biệt và hợp chúng lại chính là những KN phân tích, so sánh và tổng hợp. KN rút ra kết quả từ những tiền đề cho trước, KN dự đoán kết quả cụ thể bằng lí thuyết và KN tổng quát những kết quả đã thu được chính là KN trừu tượng hóa”.
Như vậy, trong quá trình KQH, cần đặt trong một lĩnh vực cụ thể, phân tích, so sánh, tổng hợp, từ đó hình thành khái niệm cụ thể. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau trên nhiều lĩnh vực về KQH, NLTDKQH nhưng tất cả đều thống nhất: NL là tập hợp kiến thức, KN và thái độ hoặc các chiến lược TD cốt lõi cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng. NL là những sản phẩm tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc, điều này có nghĩa là NL luôn bị chi phối bởi hoàn cảnh cụ thể mà trong đó các NL được đòi hỏi. NLTDKQH cũng là một trong những NL được hình thành và phát triển tuân theo quy luật chung, để quá trình KQH của mỗi cá nhân ngày càng hoàn thiện thì cần phải có quy trình và biện pháp phát triển NLTDKQH cho cá nhân đó một cách hợp lí.
Về cấu trúc NLTDKQH, qua một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy, để KQH cần có nhiều KN khác nhau như: phân tích, so sánh, tổng hợp, từ đó KQH thành khái niệm. Đây là cơ sở cho việc xác định cấu trúc NLTDKQH và đề xuất quy trình, biện pháp phát triển NLTDKQH cho HS thông qua BTHH hữu cơ 11. Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam Trong lĩnh vực Tâm lí học, KQH và NLTDKQH được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau và cũng có nhiều quan điểm khác nhau: Giai đoạn trước năm 2000 thì KQH, NLTDKQH chưa được nghiên cứu trực tiếp mà được đề cập thông qua nghiên cứu NL. Ở giai đoạn này, những nghiên cứu mang tính định hướng cho nghiên cứu về KQH và NLTDKQH.
Từ năm 2000 đến nay, KQH và NLKQH được nhiều tác giả đề cập đến như Vũ Dũng, Đoàn Văn Điểu, Nguyễn Quang Uẩn, Võ Quang Nhân và Trần Thế Vỹ. Có nhiều quan điểm khác nhau, song đều thống nhất “ KQH là phương tiện của hoạt động TD, được hình thành bằng những dấu hiệu chung nhất của sự vật hiện tượng. NLTDKQH chịu sự tác động các yếu tố bên trong (di truyền) và yếu tố bên ngoài(môi trường), từ đó quy định NL cụ thể của từng cá nhân"[83; tr 178]. Trong lĩnh vực Giáo dục học, KQH và NLTDKQH được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Giai đoạn trước năm 2000, KQH và NLTDKQH được nhiều tác giả nghiên cứu như Hồ Ngọc Đại, Thái Duy Tuyên, Phạm Thị Đức. Giai đoạn này các tác giả luan an 9 vẫn dựa vào những kết quả của một số tác giả trên thế giới như Hồ Ngọc Đại dựa vào lí thuyết của V. Đa-vư-đôv, cụ thể là phương pháp định hướng hành động vào lĩnh vực dạy học. Phạm Thị Đức và cộng sự dựa vào X.
Đa-vư-đôv về quan điểm chia KQH thành hai loại là KQH kinh nghiệm và KQH lí luận [19; tr 146]. Giai đoạn từ năm 2000 đến nay có rất nhiều tác giả Việt Nam như Vũ Dũng, Vũ Thị Ngân, Phan Thị Hạnh Mai, Trương Công Thanh, Mai Thị Hằng, Nguyễn Thị Mỹ Hằng,. nghiên cứu về KQH, NLTDKQH. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau nhưng hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất quan điểm “KQH là thao tác TD, là sự phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa sự vật, hiện tượng về những đặc điểm chung nhất” [59; tr 179].
KQH được hình thành nhờ kiến thức - kĩ năng - thái độ. Quá trình KQH chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền và môi trường, trong đó môi trường có vai trò quan trọng đặc biệt là quá trình giáo dục [27; tr 29]. “NLTDKQH là một trong những NL trí tuệ cơ bản của HS. NL này không những giúp HS nhìn nhận vấn đề một cách có hệ thống mà còn là một trong các phương tiện để để các em phát triển NL sáng tạo"[22].
Về cấu trúc NLTDKQH, cũng đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu, một số quan điểm tiêu biểu là: Theo Nguyễn Quang Uẩn (2001), các thao tác TD logic được xác định bởi các KN cụ thể gồm: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá - KQH, hệ thống hóa [83]. NLTDKQH Ià NL cao nhất của TD, trong đó TD logic là cơ sở quan trọng cho quá trình KQH. Như vậy, cấu trúc của NLKQH có thể được xác định bao gồm các KN thành phần là các KN tương tự như trình tự của TD logic. Theo Trần Thị Ngọc Trâm (2003), KQH được hình thành bằng con đường phân tích, so sánh để tách ra các dấu hiệu chung, giống nhau ở nhiều sự vật, hiện tượng.
Quá trình này đi từ cái riêng lẻ, cụ thể đến cái chung. KQH diễn ra theo sơ đồ “Tri giác - Biểu tượng - Khái niệm", là sự chuyển hóa từ cái cụ thể, cảm tính đến cái trừu tượng, cái TD được [67; tr 25-26]. Nghiên cứu này cho thấy, để KQH cần phải trải qua các bước: phân tích, so sánh, tổng hợp từ, đó khái quát thành khái niệm cụ thể. Khi nghiên cứu về TD logic, Nguyễn Thị Hằng Nga (2016) đã đưa ra cấu trúc NLTD logic gồm các KN thành phần nhận diện về đối tượng cần nghiên cứu, luan an 10 tìm hiểu, tự đặt câu hỏi liên quan đến đối tượng hình thành, kết nối các ý tưởng, tìm kiếm giải pháp và hành động, phân tích, đánh giá và rút kinh nghiệm [39; tr 29-31].
Dựa trên quan điểm NLTDKQH là NL cao nhất của TD, trong đó TD logic là cơ sở quan trọng cho quá trình KQH. Qua cấu trúc này, NLTD logic cho chúng ta thấy có những tương đồng về cấu trúc với NLTDKQH.