Luận án tiến sĩ phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh thông qua bài tập hóa học hữu cơ lớp 11 ở trường thpt

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh lớp 11 qua bài tập hóa học hữu cơ tại trường THPT.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

279
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

0.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

0.3. KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

0.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

0.5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

0.6. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

0.7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

0.9. CẤU TRÚC LUẬN ÁN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY KHÁI QUÁT HÓA CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀI TẬP HÓA HỌC

1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Trên thế giới

1.1.2. Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam

1.2. Tư duy, tư duy hóa học, tư duy khái quát hóa

1.2.1. Tổng quan về tư duy

1.2.2. Tư duy khái quát hóa

1.3. Năng lực và năng lực tư duy khái quát hóa

1.3.1. Tổng quan về năng lực

1.3.2. Năng lực tư duy khái quát hóa

1.4. Bài tập hóa học

1.4.1. Khái niệm bài tập hóa học

1.4.2. Vai trò của bài tập hóa học

1.4.3. Bài tập định hướng phát triển năng lực

1.4.4. Bài tập hóa học phát triển tư duy khái quát hóa

1.5. Thực trạng việc phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh thông qua việc sử dụng bài tập hóa học hữu cơ lớp 11 ở một số trường THPT

1.5.1. Mục đích, đối tượng và địa bàn điều tra

1.5.2. Phương pháp điều tra

1.5.3. Kết quả điều tra giáo viên

1.5.4. Kết quả điều tra học sinh

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY KHÁI QUÁT HÓA CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀI TẬP HÓA HỌC HỮU CƠ LỚP 11 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1. Phân tích nội dung, cấu trúc chương trình hóa học hữu cơ lớp 11 trường trung học phổ thông

2.1.1. Mục tiêu chương trình hóa học hữu cơ lớp 11 trường Trung học phổ thông

2.1.2. Đặc điểm về nội dung kiến thức và cấu trúc các bài học hình thành kiến thức mới trong chương trình Hóa học hữu cơ lớp 11

2.1.3. Đặc điểm về nội dung kiến thức và cấu trúc phần hóa hữu cơ trong chương trình hóa học phổ thông

2.1.4. Các phương pháp dạy học được sử dụng trong giảng dạy phần hóa hữu cơ lớp 11 (xem phụ lục 6)

2.2. Xây dựng cấu trúc năng lực tư duy khái quát hóa của học sinh trong học tập môn Hóa học ở trường Trung học phổ thông

2.2.1. Nguyên tắc xây dựng cấu trúc năng lực tư duy khái quát hóa

2.2.2. Quy trình xây dựng cấu trúc năng lực tư duy khái quát hóa

2.2.3. Cấu trúc năng lực tư duy khái quát hóa của học sinh trong dạy học hóa học ở trường Trung học phổ thông

2.2.4. Các tiêu chí, biểu hiện trong năng lực thành phần của năng lực tư duy khái quát hóa của học sinh trường THPT

2.2.5. Mô tả những biểu hiện của năng lực tư duy khái quát hóa của học sinh trong học tập môn Hóa học

2.3. Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh thông qua bài tập hóa học hữu cơ lớp 11

2.3.1. Những nguyên tắc (yêu cầu) sư phạm đối với dạy học hóa học theo hướng phát triển năng lực tư duy khái quát hóa

2.3.2. Quy trình xây dựng bài tập phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh

2.3.3. Lựa chọn và xây dựng nội dung bài tập phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh

2.3.4. Các dạng bài tập phát triển năng tư duy khái quát hóa cho học sinh trong chương trình hóa học hữu cơ lớp 11

2.4. Một số biện pháp sử dụng hệ thống bài tập hóa học nhằm phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh

2.4.1. Biện pháp 1: Sử dụng bài tập trong dạng bài hình thành kiến thức mới nhằm phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh

2.4.2. Biện pháp 2: Sử dụng bài tập trong dạng bài luyện tập, ôn tập nhằm phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh

2.4.3. Biện pháp 3: Sử dụng bài tập trong bài kiểm tra đánh giá nhằm phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh

2.5. Xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực tư duy khái quát hóa của học sinh thông qua sử dụng bài tập hóa học

2.5.1. Đánh giá qua bài kiểm tra đánh giá năng lực

2.5.2. Đánh giá năng lực của học sinh qua các phiếu đánh giá, bảng kiểm

2.5.3. Thiết kế phiếu hỏi học sinh về mức độ phát triển năng lực tư duy khái quát hóa thông qua sử dụng bài tập hóa học

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

3.3. Nội dung thực nghiệm

3.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

3.4.1. Kế hoạch thực nghiệm sư phạm

3.4.2. Tổ chức thực nghiệm sư phạm

3.5. Kết quả thực nghiệm

3.5.1. Kết quả đánh giá năng lực tư duy khái quát hóa của học sinh

3.5.2. Đánh giá về hệ thống bài tập tự xây dựng

3.6. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh thông qua bài tập hóa học

Năng lực tư duy khái quát hóa (tư duy khái quát hóa) là một trong những năng lực quan trọng mà học sinh lớp 11 cần phát triển. Việc dạy học hóa học hữu cơ không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện khả năng tư duy. Chương trình hóa học hữu cơ lớp 11 cung cấp cho học sinh những khái niệm cơ bản và các bài tập hóa học (bài tập hóa học hữu cơ) giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực tư duy khái quát hóa. Theo đó, việc sử dụng bài tập hóa học một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện cho học sinh phát triển năng lực tư duy độc lập và sáng tạo. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về kiến thức mà còn giúp các em áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Việc phát triển năng lực tư duy khái quát hóa còn góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học trong trường phổ thông.

1.1. Tư duy khái quát hóa và vai trò của nó trong giáo dục

Tư duy khái quát hóa là quá trình tổng hợp và rút ra những đặc điểm chung từ các sự vật, hiện tượng cụ thể. Trong giáo dục, đặc biệt là trong môn hóa học, tư duy khái quát hóa giúp học sinh không chỉ ghi nhớ kiến thức mà còn hiểu sâu sắc về bản chất của các hiện tượng hóa học. Việc phát triển tư duy khái quát hóa cho học sinh lớp 11 thông qua bài tập hóa học hữu cơ là rất cần thiết. Các bài tập này không chỉ giúp học sinh củng cố kiến thức mà còn rèn luyện khả năng phân tích, tổng hợp và áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh giáo dục hiện đại, nơi mà việc phát triển năng lực tư duy độc lập và sáng tạo của học sinh được đặt lên hàng đầu.

1.2. Thực trạng và thách thức trong việc phát triển năng lực tư duy khái quát hóa

Hiện nay, việc phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh lớp 11 thông qua bài tập hóa học hữu cơ còn gặp nhiều thách thức. Nhiều giáo viên vẫn chưa chú trọng đến việc sử dụng bài tập hóa học một cách hiệu quả. Các bài tập thường thiên về lý thuyết, thiếu tính thực tiễn và không khuyến khích học sinh tư duy sáng tạo. Điều này dẫn đến việc học sinh không phát huy được khả năng tư duy khái quát hóa của mình. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự đổi mới trong phương pháp dạy học hóa học, tập trung vào việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học hữu cơ phù hợp với năng lực và nhu cầu của học sinh.

II. Phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh thông qua bài tập hóa học hữu cơ

Phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh lớp 11 thông qua bài tập hóa học hữu cơ là một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục hiện nay. Các bài tập hóa học hữu cơ không chỉ giúp học sinh củng cố kiến thức mà còn rèn luyện khả năng tư duy độc lập và sáng tạo. Việc xây dựng hệ thống bài tập hóa học hữu cơ cần phải dựa trên các nguyên tắc sư phạm, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn. Các bài tập cần được thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lý và khả năng của học sinh, từ đó giúp các em phát triển năng lực tư duy khái quát hóa một cách hiệu quả. Hơn nữa, việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực sẽ tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động và sáng tạo.

2.1. Nguyên tắc xây dựng bài tập hóa học hữu cơ

Khi xây dựng bài tập hóa học hữu cơ nhằm phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh, cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản. Đầu tiên, bài tập cần phải có tính thực tiễn, liên quan đến các hiện tượng hóa học trong đời sống hàng ngày. Thứ hai, bài tập cần phải khuyến khích học sinh tư duy sáng tạo, không chỉ dừng lại ở việc giải quyết bài tập mà còn phải biết áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tế. Cuối cùng, bài tập cần phải được phân loại rõ ràng, từ dễ đến khó, để học sinh có thể tiếp cận và làm quen dần với các dạng bài tập khác nhau. Việc tuân thủ các nguyên tắc này sẽ giúp học sinh phát triển năng lực tư duy khái quát hóa một cách hiệu quả.

2.2. Các dạng bài tập phát triển năng lực tư duy khái quát hóa

Các dạng bài tập hóa học hữu cơ có thể được sử dụng để phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh rất đa dạng. Một số dạng bài tập có thể kể đến như bài tập định hướng phát triển năng lực, bài tập thực hành hóa học, và bài tập kiểm tra đánh giá. Mỗi dạng bài tập đều có những đặc điểm riêng, phù hợp với từng mục tiêu giáo dục cụ thể. Việc kết hợp các dạng bài tập này trong quá trình dạy học sẽ giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy khái quát hóa, từ đó nâng cao chất lượng dạy học hóa học trong trường phổ thông.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh thông qua bài tập hóa học hữu cơ lớp 11 ở trường thpt

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY KHÁI QUÁT HÓA CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀI TẬP HÓA HỌC 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới KQH được xem như một thao tác của TD.

Đã từ lâu, KQH, NLTDKQH được đề cập và nghiên cứu chủ yếu trong Tâm lí học và Giáo dục học. Trong lĩnh vực Tâm lý học, KQH, NLTDKQH được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau: Giai đoạn trước năm 1950 đại diện là thuyết liên tưởng của tác giả như Đ.Um, Giêm Prinxtli, A. Bên…,trong đó tiêu biểu là Claparet- khi ông cho rằng “KQH là sự tổng hợp đặc điểm của các sự vật hiện tượng, bản chất là thuyết mò mẫm, là quá trình ngẫu nhiên, là hình thức cơ bản của mọi động vật để thích ứng với môi trường biến động, mò mẫm không có hệ thống là đặc trưng của trí thông minh kinh nghiệm, còn mò mẫm hệ thống là đặc trưng của trí tuệ thông minh đúng với tên gọi của nó”. Giai đoạn từ năm 1950 đến 1980, đại diện là G.Piagiê cho rằng, KQH thông qua sơ đồ hành động, đây được xem như là dạng sơ khai, KQH vẫn là quá trình ngẫu nhiên.

Giai đoạn từ 1980 đến nay có rất nhiều nhà Tâm lí học như LX. nghiên cứu cho rằng “KQH là NL cao nhất trong những NL của TD. NL này được hình thành và phát triển thông qua việc so sánh, phân tích, tổng hợp các đặc điểm của sự vật, hiện tượng, từ đó đưa ra những nhận định, phán đoán về chúng rồi KQH thành khái niệm” [84; tr 146-202], [14;tr 10]. Như vậy, trong lĩnh vực Tâm lí học các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào những nghiên cứu lí luận mà chưa chỉ ra con đường phát triển NLTDKQH cụ thể.

Trong lĩnh vực Giáo dục học, việc nghiên cứu về KQH, NLTDKQH cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Giai đoạn trước năm 1980, đại diện là P.Ganierin cho rằng “KQH là một trong những tinh chất cơ bản, quyết định chất lượng của hành động, thể hiện quá tính khái quát của cơ sở định hướng hành động và tính khái quát của bản thân thành đảng [20; tr 361-370]. Giai đoạn từ năm 1980 đến nay, đại diện là G. cho rằng “KQH phát triển từ cảm tỉnh đến hình tượng và khái niệm, cuối cùng là khái niệm trừu tượng KQH thể hiện luan an 7 trong sự phân loại nội dung giảng dạy và được hình thành trong hoạt động dạy học, dựa vào nội dung các môn học và phương pháp dạy học” [17].

Những kết quả này cho thấy trong lĩnh vực giáo dục chưa có những nghiên cứu đề xuất quy trình và biện pháp rèn NLKQH cho HS, đây là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn trong thời gian tới. Nghiên cứu về cấu trúc NLTDKQH cũng đã được nhiều tác giả quan tâm. Nhưng chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến cấu trúc NLTDKQH một cách cụ thể. Những nghiên cứu đã có mới chỉ đề cập đến cấu trúc NLTDKQH thông qua các con đường hay cách thức KQH cụ thể như: Theo LX.Vypotsky (1956), khi đề cập đến mức độ KQH bao gồm KQH cụ thể tổng hợp, KQH tổ hợp, KQH khái niệm, tác giả đã đề cập đến cấu trúc NLTDKQH là tìm hiểu đặc điểm các sự vật, hiện tượng theo sự gần gũi gửi về không gian, màu sắc đã đập vào mắt.

Nhóm các đặc điểm của các sự vật, hiện tượng căn cứ vào liên hệ có thực của chúng rồi qui chiếu vào các đối tượng cụ thể TD tổ hợp gắn chặt các sự vật, hiện tượng được tri giác vào các nhóm [84; tr 228-234]. Như vậy, theo LX.Vygotsky thì để KQH cần có quá trình phân tích, tổ hợp và KQH thành khái niệm. Ozahecrh (1980) [34] khi nghiên cứu về TD logic đã khẳng định “để có TD này thì yêu cầu chủ thể phải có kĩ năng (KN) rút ra các hệ quả từ những tiến đề cho trước; KN phân chia những trường hợp riêng biệt và hợp chúng lại; KN dự đoán kết quả cụ thể bằng lí thuyết, KN tổng quát những kết quả đã thu được. Tác giả đã làm nổi bật TD logic đặc trưng bởi KN đưa ra hệ quả từ những tiên đề, KN phân chia những trường hợp riêng biệt và hợp chúng lại để được đối tượng đang xét; KN khẳng định lí thuyết từ một kết quả cụ thể hoặc tổng quát những kết quả thu được”.

Như vậy, theo B. Ozahecrh, các KN cần có trong quá trình KQH là: “Phân chia những trường hợp riêng biệt và hợp chúng; rút ra kết quả từ những tiền để cho trước; dự đoán kết quả cụ thể bằng lí thuyết; tổng quát những kết quả đã thu được. KN phân chia những trường hợp riêng biệt và hợp chúng lại chính là những KN phân tích, so sánh và tổng hợp. KN rút ra kết quả từ những tiền đề cho trước, KN dự đoán kết quả cụ thể bằng lí thuyết và KN tổng quát những kết quả đã thu được chính là KN trừu tượng hóa”.

Như vậy, trong quá trình KQH, cần đặt trong một lĩnh vực cụ thể, phân tích, so sánh, tổng hợp, từ đó hình thành khái niệm cụ thể. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau trên nhiều lĩnh vực về KQH, NLTDKQH nhưng tất cả đều thống nhất: NL là tập hợp kiến thức, KN và thái độ hoặc các chiến lược TD cốt lõi cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng. NL là những sản phẩm tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc, điều này có nghĩa là NL luôn bị chi phối bởi hoàn cảnh cụ thể mà trong đó các NL được đòi hỏi. NLTDKQH cũng là một trong những NL được hình thành và phát triển tuân theo quy luật chung, để quá trình KQH của mỗi cá nhân ngày càng hoàn thiện thì cần phải có quy trình và biện pháp phát triển NLTDKQH cho cá nhân đó một cách hợp lí.

Về cấu trúc NLTDKQH, qua một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy, để KQH cần có nhiều KN khác nhau như: phân tích, so sánh, tổng hợp, từ đó KQH thành khái niệm. Đây là cơ sở cho việc xác định cấu trúc NLTDKQH và đề xuất quy trình, biện pháp phát triển NLTDKQH cho HS thông qua BTHH hữu cơ 11. Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam Trong lĩnh vực Tâm lí học, KQH và NLTDKQH được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau và cũng có nhiều quan điểm khác nhau: Giai đoạn trước năm 2000 thì KQH, NLTDKQH chưa được nghiên cứu trực tiếp mà được đề cập thông qua nghiên cứu NL. Ở giai đoạn này, những nghiên cứu mang tính định hướng cho nghiên cứu về KQH và NLTDKQH.

Từ năm 2000 đến nay, KQH và NLKQH được nhiều tác giả đề cập đến như Vũ Dũng, Đoàn Văn Điểu, Nguyễn Quang Uẩn, Võ Quang Nhân và Trần Thế Vỹ. Có nhiều quan điểm khác nhau, song đều thống nhất “ KQH là phương tiện của hoạt động TD, được hình thành bằng những dấu hiệu chung nhất của sự vật hiện tượng. NLTDKQH chịu sự tác động các yếu tố bên trong (di truyền) và yếu tố bên ngoài(môi trường), từ đó quy định NL cụ thể của từng cá nhân"[83; tr 178]. Trong lĩnh vực Giáo dục học, KQH và NLTDKQH được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau.

Giai đoạn trước năm 2000, KQH và NLTDKQH được nhiều tác giả nghiên cứu như Hồ Ngọc Đại, Thái Duy Tuyên, Phạm Thị Đức. Giai đoạn này các tác giả luan an 9 vẫn dựa vào những kết quả của một số tác giả trên thế giới như Hồ Ngọc Đại dựa vào lí thuyết của V. Đa-vư-đôv, cụ thể là phương pháp định hướng hành động vào lĩnh vực dạy học. Phạm Thị Đức và cộng sự dựa vào X.

Đa-vư-đôv về quan điểm chia KQH thành hai loại là KQH kinh nghiệm và KQH lí luận [19; tr 146]. Giai đoạn từ năm 2000 đến nay có rất nhiều tác giả Việt Nam như Vũ Dũng, Vũ Thị Ngân, Phan Thị Hạnh Mai, Trương Công Thanh, Mai Thị Hằng, Nguyễn Thị Mỹ Hằng,. nghiên cứu về KQH, NLTDKQH. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau nhưng hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất quan điểm “KQH là thao tác TD, là sự phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa sự vật, hiện tượng về những đặc điểm chung nhất” [59; tr 179].

KQH được hình thành nhờ kiến thức - kĩ năng - thái độ. Quá trình KQH chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền và môi trường, trong đó môi trường có vai trò quan trọng đặc biệt là quá trình giáo dục [27; tr 29]. “NLTDKQH là một trong những NL trí tuệ cơ bản của HS. NL này không những giúp HS nhìn nhận vấn đề một cách có hệ thống mà còn là một trong các phương tiện để để các em phát triển NL sáng tạo"[22].

Về cấu trúc NLTDKQH, cũng đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu, một số quan điểm tiêu biểu là: Theo Nguyễn Quang Uẩn (2001), các thao tác TD logic được xác định bởi các KN cụ thể gồm: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá - KQH, hệ thống hóa [83]. NLTDKQH Ià NL cao nhất của TD, trong đó TD logic là cơ sở quan trọng cho quá trình KQH. Như vậy, cấu trúc của NLKQH có thể được xác định bao gồm các KN thành phần là các KN tương tự như trình tự của TD logic. Theo Trần Thị Ngọc Trâm (2003), KQH được hình thành bằng con đường phân tích, so sánh để tách ra các dấu hiệu chung, giống nhau ở nhiều sự vật, hiện tượng.

Quá trình này đi từ cái riêng lẻ, cụ thể đến cái chung. KQH diễn ra theo sơ đồ “Tri giác - Biểu tượng - Khái niệm", là sự chuyển hóa từ cái cụ thể, cảm tính đến cái trừu tượng, cái TD được [67; tr 25-26]. Nghiên cứu này cho thấy, để KQH cần phải trải qua các bước: phân tích, so sánh, tổng hợp từ, đó khái quát thành khái niệm cụ thể. Khi nghiên cứu về TD logic, Nguyễn Thị Hằng Nga (2016) đã đưa ra cấu trúc NLTD logic gồm các KN thành phần nhận diện về đối tượng cần nghiên cứu, luan an 10 tìm hiểu, tự đặt câu hỏi liên quan đến đối tượng hình thành, kết nối các ý tưởng, tìm kiếm giải pháp và hành động, phân tích, đánh giá và rút kinh nghiệm [39; tr 29-31].

Dựa trên quan điểm NLTDKQH là NL cao nhất của TD, trong đó TD logic là cơ sở quan trọng cho quá trình KQH. Qua cấu trúc này, NLTD logic cho chúng ta thấy có những tương đồng về cấu trúc với NLTDKQH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh lớp 11 qua bài tập hóa học hữu cơ" của tác giả Nguyễn Trí Ngẫn, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Xuân Trường, được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2019. Bài luận án này tập trung vào việc phát triển năng lực tư duy khái quát hóa cho học sinh lớp 11 thông qua các bài tập hóa học hữu cơ, nhằm nâng cao khả năng tư duy và giải quyết vấn đề trong học tập. Nội dung của luận án không chỉ giúp giáo viên có thêm phương pháp giảng dạy hiệu quả mà còn hỗ trợ học sinh trong việc hình thành và phát triển tư duy khoa học.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp dạy học trong môn hóa học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận án tiến sĩ: Vận dụng mô hình Blended Learning trong dạy học hóa học hữu cơ lớp 11 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông", nơi đề cập đến việc áp dụng mô hình Blended Learning để nâng cao năng lực tự học cho học sinh. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Luận án tiến sĩ về phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 11 qua dạy học hóa học hữu cơ", một nghiên cứu khác cũng tập trung vào việc phát triển năng lực tự học trong môn hóa học hữu cơ. Cuối cùng, "Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh lớp 11 trong dạy học hóa học" sẽ cung cấp thêm góc nhìn về việc nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh trong bối cảnh dạy học hóa học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp và chiến lược giảng dạy trong lĩnh vực hóa học.