Chương 1 : Cơ sở lí luận của việc xác lập các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông. Chương 2 : Thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông tỉnh Hưng Yên. Chương 3 : Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm tăng cường công tác giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông ở tỉnh Hưng Yên 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÁC LẬP CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Đạo đức là một hình thái ý thức XH, được hình thành, phát triển cùng với lịch sử XH loài người và luôn được mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi thời đại quan tâm.
Với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, những tư tuởng ĐĐ đã xuất hiện khá sớm trong lĩnh vực triết học Trung Hoa, ấn Độ, Hy Lạp cổ đại. Đạo đức biểu hiện đặc trưng về nhân cách, văn hoá; là những yêu cầu, những nguyên tắc, chuẩn mực do cuộc sống đặt ra mà mỗi con người phải tuân theo. Đạo đức phản ánh các mối quan hệ, ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với xã hội và con người với thế giới tự nhiên. Xuất phát từ mối quan hệ tự nhiên đó, người ta phân biệt được cái tốt với cái xấu, cái thiện với cái ác, cái hay với cái dở,…thể hiện trong hành động của mỗi con người.
thế nhưng con người là tế bào của xã hội, đạo đức không chỉ gắn liền với những con người cụ thể, mà nó còn gắn chặt với mỗi dân tộc, mỗi giai cấp tạo nên nền tảng đạo đức của mỗi xã hội nhất định trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Theo chiều dài lịch sử, đã có rất nhiều quan điểm về đạo đức, nhưng chỉ có quan điểm của chủ nghĩa Mác – LêNin là khoa học nhất, tiến bộ nhất. Chủ nghĩa Mác- LêNin cho rằng đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội, khi tồn tại xã hội được thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo, như 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vậy đạo đức là một phạm trù mang tính vĩnh hằng nhưng mang lại những đặc điểm của giai cấp, của dân tộc và thay đổi chuẩn mực trong từng giai đoạn lịch sử. Ở Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản ra đời, Đảng, Bác Hồ thường xuyên quan tâm đến vấn đề đạo đức, đó là đạo đức cách mạng, đạo đức XHCN, là “Cần-kiệm-Liêm –Chính, chí công vô tư”, là “Nhân- Nghĩa - Trí- Dũng- Liêm”, Bác đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng thế hệ trẻ, nhằm giúp cho họ có được những phẩm chất và năng lực để kế tục sự nghiệp cách mạng.
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền với quá trình xây dựng phát triển tư tưởng ĐĐ cách mạng, mà chính Bác là tấm gương tiêu biểu và trong sáng nhất. Bác nói: “Bất kì ở cương vị nào, bất kì làm công việc gì đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đạo đức cách mạng là đạo đức tập thể, nó phải đánh thắng đạo đức cá nhân”.[17] Tuy nhiên, nhìn thẳng vào sự thật chúng ta thấy rằng trong quá trình hội nhập quốc tế, trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường, đạo đức, nhân cách của con người có nhiều biểu hiện thiếu lành mạnh, trong sáng, phần nào làm ảnh hưởng đến đạo đức xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta và Bác Hồ đã dày công vun đắp. Những biểu hiện tiêu cực thiếu văn hoá, mất đạo đức của một bộ phận trong cộng đồng dân cư, trong xã hội đã làm ảnh hưởng đến nhà trường đặc biệt là trường THPT.
Đứng trước thực tế này, GDĐĐ cho học sinh là vấn đề rất bức xúc, đã được Đảng, nhà nước quan tâm và được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu. Chúng ta có thể tìm hiểu qua các tác giả như :Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Hà Nhật Thăng, Phạm Khắc Chương, …… Rõ ràng về mặt lí luận cũng như thực tiễn, vấn đề đạo đức và GDĐĐ trong nhà trường đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm, nghiên cứu về 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con người trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở cửa, đổi mới ở nước ta, dựa vào đó các nhà QLGD có thể đưa ra những biện pháp hữu hiệu hơn. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu những biện pháp QL công tác GDĐĐ của Hiệu trưởng trường THPT trên địa bàn tỉnh Hưng Yên một tỉnh giàu truyền thống cách mạng và có nhiều tiềm năng về phát triển kinh tế. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý Bất kì lao động nào của xã hội hay cộng đồng ở một quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định của hoạt động QL. Vì thế Các- Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi người lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng ”. [31] Bản chất của QL là họat động lao động để điều khiền lao động, một hoạt động tất yếu và vô cùng quan trọng của XH loài người.
Nó bắt nguồn từ lao động và tồn tại với tư cách là một loại lao động điều khiển mọi hoạt động XH về kinh tế, chính trị, văn hoá, GD,… Các loại hình lao động ngày càng phong phú, phức tạp thì hoạt động QL ngày càng có vai trò quan trọng có những chức năng đặc biệt và phải luôn được thay đổi phù hợp, thích ứng với lao động xã hội. Do vậy người ta thường nói: “QL là nghiệp xưa nhất nhưng cũng là nghề mới nhất”. Quản lý ra đời nhằm tạo ra một hiệu quả lao động cao hơn so với việc làm của từng cá nhân riêng lẻ của một nhóm người khi họ tiến hành các công việc có mục tiêu chung với nhau. Quản lý phải trả lời câu hỏi.
Phải đạt mục tiêu nào? Đạt mục tiêu đó bằng cách nào? Phải mở rộng ảnh hưởng của tổ chức bằng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách nào? Phải thu hút lôi kéo thêm ai vào tổ chức và bằng cách nào để họ phát huy hết tài năng trong quá trình làm việc?. Quản lý là một khái niệm rộng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau,vì vậy khái niệm về quản lý khi được đưa ra luôn gắn với các loại hình quản lý cụ thể. Sau đây là một số quan niệm : +Theo tác giả Trần Đình Nghiêm: “Quản lý là một quá trình dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một hệ thống mới”. [22] +Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu.
Quản lý là hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”. [14] + Theo Nguyễn Văn Lê : “Quản lý là một hệ thống tác động khoa học, nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống”. [16] +Theo đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý thì : “Quản lý là tổ chức điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan”.
[30] Quản lý là một quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan bằng các phương pháp thích hợp. Xem xét nội hàm của những khái niệm quản lý nêu trên, ta thấy quản lý là một dạng hoạt động xã hội và tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm chủ thể, khách thể và phương tiện quản lý. Mục đích và phương tiện là cặp phạm trù trong mối quan hệ biện chứng của mọi hoạt động, vì thế để thực hiện được từng mục tiêu cụ thể nhằm đạt được mục đích quản lý cần phải có phương tiện quản lý thích hợp. Quản lý có phạm vi tác động lên khách thể rất rộng, do đó ngày nay nó được xem là nhân tố quan trọng nhất trong các nhân tố quyết định sự thành công 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của sự phát triển KT- XH (vốn, nguồn lực lao động, khoa học kĩ thuật, tài nguyên và quản lý).
Như vậy: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể lên khách thể thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực bên trong và bên ngoài trong điều kiện môi trường luôn luôn có biến động, để cho hệ thống ổn định và vận động theo chiều hướng phát triển tích cực đạt được những mục tiêu đề ra. Quản lý giáo dục Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục ở trong và ngoài nước, những kết quả nghiên cứu ấy đã được ứng dụng rộng rãi trong xã hội đặc biệt là trong ngành giáo dục và đã mang lại những kết quả nhất định. Trên thực tế khái niệm quản lý giáo dục được hiểu theo cả hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp tuỳ theo phạm vi áp dụng của từ “Giáo dục”. Quản lý giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng khi “Giáo dục” là hoạt động diễn ra ngoài xã hội.
Còn khi “Giáo dục” được diễn ra trong ngành GD thì quản lý GD được hiểu theo nghĩa hẹp.