phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý các điều kiện đảm bảo chất lƣợng đào tạo đại học tại chức của trƣờng Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Chƣơng 3: Đề xuất những biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lƣợng đào tạo đại học tại chức của trƣờng Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội. LUAN VAN CHAT LUONG download13 : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chất lƣợng đào tạo ngày càng thu hút đƣợc sự quan tâm không những của các nhà quản lý giáo dục mà còn của cả xã hội. Đa dạng hoá và chuẩn hoá từng loại hình đào tạo về chất lƣợng và các điều kiện đảm bảo chất lƣợng là phƣơng châm hành động để bảo đảm phát triển giáo dục trên cơ sở bảo đảm chất lƣợng. Theo quan điểm này, chất lƣợng đào tạo đại học tại chức đƣợc bàn luận đến nhiều trên các báo, tạp chí thuộc chuyên ngành giáo dục, nhƣng các ý kiến chủ yếu là khen chê mà chƣa bàn đến cách thức tổ chức, quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo. Nhận thức đƣợc vai trò quan trọng, tính cấp bách của việc nâng cao chất lƣợng đào tạo hệ tại chức nhằm góp phần khẳng định uy tín, vị thế của nhà trƣờng, Trƣờng Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN đã tổ chức hội thảo quốc gia Nâng cao chất lƣợng đào tạo ngoại ngữ không chính quy đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội trong hai ngày 16 -17 tháng 5 năm 2001.
Và vào tháng 8 năm 2006 nhà trƣờng tiếp tục tổ chức hội thảo Hoàn thiện chƣơng trình đào tạo cử nhân ngoại ngữ hệ vừa học vừa làm. Kỷ yếu các hội thảo ra đời đã thể hiện sự đóng góp thiết thực và quý báu của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo về công tác đào tạo ĐHTC ngành ngoại ngữ. Tuy nhiên, cho đến nay Trƣờng Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN chƣa có công trình nghiên cứu nào về quản lý các điều kiện đảm bảo chất lƣợng đào tạo đại học hệ tại chức. Vận dụng các kiến thức đã tiếp thu đƣợc trong quá trình học chuyên ngành quản lý giáo dục nhằm góp phần giải quyết một trong những vấn đề tồn LUAN VAN CHAT LUONG download14 : add luanvanchat@agmail.com tại hiện nay của nhà trƣờng, trong luận văn, thông qua thực nghiệm tác giả sẽ nghiên cứu vấn đề một cách tƣơng đối toàn diện, từ đó đề xuất các hƣớng giải quyết dƣới dạng các biện pháp quản lý hiệu quả các điều kiện đảm bảo chất lƣợng đào tạo.
Đề tài "Biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo chất lƣợng đào tạo đại học hệ tại chức của Trƣờng Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN" lần đầu tiên đƣợc nghiên cứu với các điều kiện và số liệu cụ thể ở hệ đào tạo đại học tại chức Trƣờng Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN. Các khái niệm cơ bản về quản lý 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con ngƣời và là một nhân tố của sự phát triển xã hội. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tuỳ thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị: - F.
Taylor (1856 -1915) ngƣời đƣợc mệnh danh là cha đẻ của lý luận quản lý một cách khoa học cho rằng quản lý là biết chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó khiến đƣợc họ hoàn thành công việc tốt nhất và rẻ nhất [5. Fayol (1841-1925) coi quản lý là một loại công việc đặc thù, khác với các loại công việc khác của xí nghiệp và trở thành một hệ thống độc lập, phát huy tác dụng riêng có của nó mà các hệ thống khác của xí nghiệp không thể nào thay thế đƣợc. Ông nói về nội hàm của khái niệm quản lý nhƣ sau: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” (24, tr. Năm yếu tố trên đã tồn tại nhƣ những chuẩn mực đƣợc tuân theo một cách phổ biến trong quản lý hiện đại.
Drucker (1909-2005) luôn nhấn mạnh quản lý sinh ra từ thực tiễn và trở về với thực tiễn. Ông quan niệm: “Quyền uy duy nhất của quản lý chính là thành tựu mà nó có thể đạt đƣợc ” [24, tr. - Nghiên cứu về khoa học quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng định nghĩa rõ hơn cả về quản lý đó là: "Quá LUAN VAN CHAT LUONG download15 : add luanvanchat@agmail.com trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra" [2, tr. Nhƣ vậy, có nhiều cách tiếp cận quản lý, song các định nghĩa đều đề cập tới bản chất của hoạt động quản lý, đó là cách thức tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm làm cho toàn bộ tổ chức hƣớng đến mục tiêu, đạt đƣợc thành quả mong muốn.
Quản lý là sự tác động tƣơng hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý. Tác động quản lý thƣờng mang tính tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau. Vì vậy, trong quản lý không thể tuân thủ theo những quy định cứng nhắc mà phải linh hoạt, mềm dẻo. Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật.
Là một khoa học vì các hoạt động quản lý luôn là hoạt động có tổ chức, có định hƣớng trên những quy luật, những nguyên tắc và phƣơng pháp hoạt động cụ thể. Chỉ khi nhận biết đúng các quy luật đó, các đặc điểm của từng cá thể, các đặc trƣng tâm lý khác nhau thì tác động của quản lý mới có kết quả. Mặc dù trong hoạt động quản lý, nhà quản lý luôn tìm cách đúc kết kinh nghiệm và cải tiến công việc để có hiệu quả, tuy nhiên, muốn quản lý tốt thì phải học, không thể chỉ làm theo kinh nghiệm đƣợc. Quản lý đồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động quản lý là hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động.
Không có một nguyên tắc chung nào cho mọi tình huống. Nhà quản lý phải làm sao để có thể xử lý sáng tạo, thành công mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra, điều đó phụ thuộc vào bí quyết sắp xếp các nguồn lực, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử, khả năng thuyết phục, kỹ năng sử dụng biện pháp v. của từng ngƣời. Xã hội ngày càng phát triển, vai trò của quản lý càng đƣợc nhấn mạnh và nội dung của hoạt động quản lý càng phức tạp.
Quản lý luôn gắn với tổ chức cụ thể và là nhân tố quyết định sức sống và sự thành công của tổ chức. Chức năng của quản lý LUAN VAN CHAT LUONG download16 : add luanvanchat@agmail.com Chức năng quản lý là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý. Quản lí có bốn chức năng cơ bản, có quan hệ mật thiết với nhau là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Kế hoạch hoá: là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý.
Kế hoạch hoá bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chƣơng trình hành động và quyết định cách thức, phƣơng tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý để đạt đƣợc mục tiêu. Kế hoạch hoá giúp nhà quản lý có cái nhìn tổng thể, toàn diện, từ đó thấy đƣợc hoạt động tƣơng tác giữa các bộ phận. Việc lập kế hoạch cho phép lựa chọn những phƣơng án tối ƣu, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức và có khả năng ứng phó với sự thay đổi. Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra.
Không có kế hoạch sẽ không thể xác định tổ chức hƣớng tới đúng hay chệch mục tiêu và không biết khi nào đạt đƣợc mục tiêu. Cũng do đó kiểm tra trở thành vô căn cứ. Nhà quản lý thông qua kế hoạch có thể nhìn thấy tƣơng lai, có thể điều chỉnh những quyết định trƣớc đó, bảo đảm hƣớng vào mục tiêu đã định. Tổ chức: Tổ chức là việc biến những ý tƣởng trừu tƣợng của kế hoạch thành hiện thực.
Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu tổng thể của tổ chức. Tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản lý thực hiện có hiệu quả. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của ngƣời quản lý. Họ cần thiết kế cơ cấu các bộ phận, sử dụng các nguồn nhân lực và vật lực sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức.
Chỉ đạo: đây là quá trình sử dụng quyền lực quản lý để tác động đến đối tƣợng bị quản lý một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hƣớng vào việc đạt mục tiêu chung. Chỉ đạo là chức năng thể hiện năng lực của ngƣời quản lý. Việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau việc lập kế hoạch và cơ cấu tổ chức đã hoàn tất, mà nó hoà quyện và ảnh hƣởng đến hai chức năng kia. LUAN VAN CHAT LUONG download17 : add luanvanchat@agmail.
Kiểm tra: là chức năng quan trọng xuyên suốt quá trình quản lý. Mục đích của kiểm tra nhằm bảo đảm các kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời những sai lệch, tìm nguyên nhân và biện pháp điều chỉnh các sai lệch nhằm làm cho toàn bộ hệ thống đạt mục tiêu đã định. Kiểm tra là một quá trình bao gồm các bƣớc: xây dựng các tiêu chuẩn; đo lƣờng việc thực hiện; đánh giá các tiêu chuẩn so với kế hoạch. Kiểm tra là tai mắt của quản lý, là việc làm bình thƣờng, không đƣợc cản trở đối tƣợng thực hiện mục tiêu.
Bốn chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra tạo thành hệ thống quản lý thống nhất với một trình tự nhất định. Trong hệ thống quản lý này, yếu tố thông tin luôn có mặt ở tất cả các giai đoạn với vai trò là điều kiện phƣơng tiện không thể thiếu đƣợc đối với việc thực hiện các chức năng quản lý. Biện pháp quản lý Biện pháp, theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên, đƣợc xác định là: “cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể”.