Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu về hoàn thiện bộ máy quản lý tại Bưu điện tỉnh Hà Tây được thực hiện trong bối cảnh ngành bưu chính viễn thông Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Địa bàn tỉnh Hà Tây có diện tích tự nhiên 2.187 km², bao gồm 12 huyện và 2 thị xã, với quy mô dân số vượt 2,3 triệu người và mật độ dân số xấp xỉ 1.000 người/km² vào năm 1997. Ngành bưu điện không còn giữ vị thế độc quyền tuyệt đối khi xuất hiện các đơn vị cạnh tranh như Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội và Công ty Viễn thông Sài Gòn, đặc biệt sau khi Hiệp định mở cửa thị trường viễn thông cơ bản được 69 quốc gia thành viên WTO ký kết vào ngày 15-02-1997.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự bất cập giữa mô hình tổ chức quản lý hiện hành với yêu cầu vận hành mạng lưới kỹ thuật số hiện đại. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức bộ máy doanh nghiệp, phân tích thực trạng quản lý giai đoạn 1993 - 1997, chỉ rõ các điểm nghẽn tổ chức và đề xuất hệ thống giải pháp tái cơ cấu bộ máy quản lý Bưu điện Hà Tây thích ứng với cơ chế thị trường.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào cơ quan quản lý Bưu điện tỉnh Hà Tây và mối quan hệ phối hợp với 13 Bưu điện huyện, thị xã cùng 3 công ty chuyên ngành trực thuộc. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm nâng cao hiệu suất làm việc của 720 lao động hợp đồng không thời hạn, quản lý hiệu quả nguồn vốn đầu tư phát triển từ 50 đến 60 tỷ đồng mỗi năm và đảm bảo tính cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp bưu điện địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản trị tổ chức kinh điển của Henry Fayol kết hợp với trường phái quản trị hệ thống hiện đại của Harold Koontz. Theo khung lý thuyết này, quản trị doanh nghiệp là một quá trình liên tục tác động có chủ đích lên tập thể người lao động nhằm tối ưu hóa các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) theo 4 chức năng cốt lõi theo hướng tác động: định hướng, tổ chức và phối hợp, điều khiển (chỉ huy), và kiểm tra. Đồng thời, cấu trúc quản trị được phân định thành 4 chức năng nghiệp vụ nội dung: điều độ sản xuất - kỹ thuật, hòa nhập thị trường, quản trị nhân sự, và tài chính - thương mại.

Khung phân tích xem xét 4 mô hình cơ cấu tổ chức căn bản trong quản trị doanh nghiệp: cơ cấu trực tuyến, cơ cấu chức năng, cơ cấu trực tuyến - chức năng và cơ cấu ma trận. Hai phương pháp luận thiết kế tổ chức được áp dụng làm nền tảng gồm phương pháp tương tự (kế thừa các điển hình quản trị thành công) và phương pháp phân tích theo yếu tố thông qua quy trình 3 giai đoạn khảo sát định lượng chi tiết.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm các báo cáo thống kê định kỳ, báo cáo tài chính hạch toán phụ thuộc, chỉ tiêu sản lượng bưu chính - viễn thông và hồ sơ tổ chức lao động của Bưu điện tỉnh Hà Tây giai đoạn 1993 - 1997, đối chiếu với các văn bản quy định của Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam theo tinh thần Nghị định 51/CP của Chính phủ.

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu khảo sát toàn bộ gồm 100% các đơn vị trực thuộc (13 bưu điện huyện, thị xã và 3 công ty thành viên) cùng toàn thể 720 cán bộ công nhân viên chính thức và 600 nhân viên bưu tá xã. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn nhằm đảm bảo tính bao quát tuyệt đối, phản ánh đầy đủ mọi mối liên hệ mệnh lệnh và luồng thông tin trong mạng lưới sản xuất dây chuyền khép kín của ngành bưu điện.

Phương pháp phân tích chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh kinh tế và phương pháp thực chứng. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác mối quan hệ giữa biến động chi phí quản lý với tốc độ tăng trưởng sản lượng viễn thông (tăng từ 2,979 triệu phút lên 33,3 triệu phút trong 5 năm), từ đó đánh giá khách quan tính hợp lý của bộ máy điều hành theo trục thời gian 1993 - 1998.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ hiện đại hóa mạng lưới viễn thông diễn ra vượt bậc nhưng tạo áp lực điều hành rất lớn lên bộ máy quản lý. Từ năm 1993 đến 1997, số trạm tổng đài điện tử tăng từ 1 trạm HOST và 3 trạm vệ tinh (dung lượng ban đầu hơn 3.000 số) lên trên 30 điểm tổng đài kỹ thuật số với tổng dung lượng vượt 30.000 số, phục vụ hơn 90 bưu cục. Sản lượng điện thoại trong nước tăng gấp hơn 10 lần (từ 2,979 triệu phút lên 33,3 triệu phút), trong khi sản lượng điện thoại quốc tế tăng đột biến 17,8 lần (từ 6.600 phút năm 1993 lên 118.000 phút năm 1997).

Thứ hai, mô hình tổ chức bộ máy theo kiểu chuyên viên trực tuyến tại cơ quan Bưu điện tỉnh bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Ngoại trừ Phòng Hành chính quản trị (14 người) và Phòng Kế toán - Thống kê - Tài chính (11 người), các bộ phận chuyên môn còn lại gồm Kế hoạch (5 người), Nghiệp vụ kỹ thuật Bưu chính - Viễn thông (7 người), Tổ chức lao động - Tiền lương (6 người) và Bưu chính - Phát hành báo chí (3 người) đều không lập thành phòng chính thức và không có chức danh Trưởng, Phó phòng. Các chuyên viên làm việc độc lập và báo cáo thẳng lên Giám đốc, làm phát sinh hơn 20 đầu mối quan hệ công tác trực tiếp, gây quá tải nghiêm trọng cho Ban Giám đốc.

Thứ ba, sự phân bổ định biên nhân lực bộc lộ tình trạng mất cân đối cục bộ. Bộ phận Kế hoạch chỉ có 3 cán bộ phụ trách mảng đầu tư xây dựng cơ bản dù phải quản lý giá trị đầu tư hàng năm từ 50 đến 60 tỷ đồng; toàn bộ hệ thống tin học và dịch vụ mạng của tỉnh chỉ do 1 kỹ sư đảm nhiệm. Ngược lại, Phòng Hành chính quản trị vẫn duy trì 3 nhân viên giữ trẻ (vốn không còn đối tượng phục vụ do con em cán bộ đã lớn) và 3 nhân viên tạp vụ, gây lãng phí khoảng 15% quỹ lương quản lý gián tiếp.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu cho thấy sự mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng công nghệ với tư duy tổ chức bộ máy. Dữ liệu thực trạng có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện mức tăng trưởng doanh thu cước viễn thông qua các năm 1993, 1995, 1997 song song với biểu đồ cơ cấu lao động gián tiếp trên tổng số 720 cán bộ công nhân viên.

Nguyên nhân cốt lõi là do quán tính của cơ chế bao cấp cũ kéo dài sau khi chia tách tỉnh Hà Sơn Bình năm 1993, kết hợp với việc Ban Giám đốc chỉ có 1 Giám đốc và 1 Phó Giám đốc (thiếu 1 Phó Giám đốc so với định mức chung của các bưu điện tỉnh khác). Khi so sánh với kinh nghiệm quản trị của các tập đoàn bưu chính viễn thông quốc tế, mô hình của Bưu điện Hà Tây chưa tận dụng được tính kỷ luật và tinh thần làm việc nhóm của mô hình quản trị phương Đông (Nhật Bản), đồng thời thiếu công cụ phân cấp và ứng dụng công nghệ thông tin tinh gọn tầng nấc trung gian như mô hình quản trị phương Tây (Mỹ). Việc thiếu vắng cấp trưởng phòng chịu trách nhiệm toàn diện khiến công tác điều độ mạng lưới và xử lý sự cố giữa khâu chuyển mạch, truyền dẫn và ngoại vi thường xuyên bị chậm trễ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện bộ máy quản lý của Bưu điện tỉnh Hà Tây, bốn nhóm giải pháp đồng bộ cần được triển khai:

Thứ nhất, kiện toàn cơ cấu Ban Giám đốc và chuyển đổi mô hình chuyên viên trực tuyến sang cơ cấu trực tuyến - chức năng hoàn chỉnh. Cần bổ sung ngay 1 Phó Giám đốc chuyên trách khối Kỹ thuật - Đầu tư xây dựng cơ bản để giảm tải cho Giám đốc; chính thức chuyển đổi các bộ phận nghiệp vụ thành các phòng chức năng độc lập (Phòng Kỹ thuật Viễn thông, Phòng Kế hoạch - Tiếp thị, Phòng Tổ chức Cán bộ - Lao động Tiền lương, Phòng Bưu chính - Phát hành báo chí). Bổ nhiệm Trưởng phòng và Phó Trưởng phòng có đầy đủ thẩm quyền, quy chế trách nhiệm rõ ràng nhằm giảm ít nhất 60% số lượng đầu mối xử lý trực tiếp lên Ban Giám đốc trong thời gian 6 tháng.

Thứ hai, tái cấu trúc và tối ưu hóa định biên lao động gián tiếp. Tiến hành giải thể tổ nuôi dạy trẻ tại Phòng Hành chính quản trị, điều chuyển 3 nhân sự này sang các khâu dịch vụ khách hàng hoặc tạp vụ bưu cục; tuyển dụng bổ sung 2 kỹ sư công nghệ thông tin và 2 chuyên viên giám sát dự án viễn thông để quản lý chặt chẽ nguồn vốn đầu tư từ 50 đến 60 tỷ đồng mỗi năm; cắt giảm 10% đến 15% chi phí hành chính gián tiếp trong vòng 12 tháng.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý cho 13 Bưu điện huyện, thị xã và 3 Công ty chuyên ngành. Trao quyền chủ động kinh doanh tiếp thị, giao khoán chi phí quản lý gắn với doanh thu cước, đồng thời áp dụng tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ nghiêm ngặt nhằm rút ngắn thời gian xử lý khiếu nại cước từ 48 giờ xuống dưới 12 giờ.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng tin học hóa vào quy trình quản trị nội bộ. Xây dựng phần mềm quản lý nhân sự, tự động hóa công tác theo dõi lưu lượng mạng 24/24 giờ và lập hồ sơ bảo dưỡng thiết bị điện tử, đặt mục tiêu nâng độ khả dụng toàn mạng lưới lên trên 99,8% trong lộ trình 18 tháng. Chủ thể thực hiện chính là Ban Giám đốc Bưu điện tỉnh chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Phòng Tổ chức lao động và Phòng Kỹ thuật.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, lãnh đạo và cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp Bưu chính - Viễn thông: Cung cấp bài học thực tiễn về phương pháp chuyển đổi cơ cấu bộ máy, phân định chức năng phòng ban và điều hành mạng lưới số hóa trong môi trường cạnh tranh.

Thứ tư, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Quản lý Kinh tế: Tài liệu tham khảo giá trị về ứng dụng lý thuyết cơ cấu tổ chức (Henry Fayol, Harold Koontz), phương pháp phân tích theo yếu tố 3 giai đoạn và kỹ thuật định mức lao động quản lý.

Thứ ba, chuyên viên hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông và doanh nghiệp nhà nước: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng quy chế phân cấp tài chính, tổ chức lao động và cơ chế giám sát vốn đầu tư công ích.

Thứ hai, giám đốc điều hành các doanh nghiệp nhà nước đang trong quá trình tái cấu trúc: Vận dụng quy trình rà soát định biên, tinh giản biên chế gián tiếp và thiết lập kênh truyền thông tin quản trị thông suốt.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Bưu điện Hà Tây phải cấp thiết hoàn thiện bộ máy quản lý vào giai đoạn 1997 - 1998? Do sức ép cạnh tranh sau cam kết mở cửa thị trường viễn thông WTO năm 1997 với 69 quốc gia và sự tham gia của các doanh nghiệp mới, cùng với việc sản lượng điện thoại tăng hơn 10 lần khiến mô hình bao cấp cũ trở nên quá tải.

Mô hình chuyên viên trực tuyến tại Bưu điện Hà Tây có nhược điểm cơ bản nào? Mô hình này không có chức danh Trưởng phòng ở các bộ phận nghiệp vụ, buộc mọi chuyên viên phải làm việc trực tiếp với Giám đốc, dẫn đến quá tải điều hành, thiếu sự chỉ huy tập trung và phối hợp kém nhịp nhàng giữa các khâu kỹ thuật.

Luận văn sử dụng phương pháp luận nào để thiết kế cơ cấu tổ chức mới? Luận văn áp dụng phương pháp phân tích theo yếu tố qua 3 giai đoạn khoa học, khảo sát khối lượng công việc thực tế, phân tích chức năng nhiệm vụ và định mức lao động gián tiếp trên toàn bộ 720 cán bộ công nhân viên.

Tình trạng mất cân đối nhân sự quản lý tại Bưu điện tỉnh thể hiện ở những điểm nào? Khối lượng vốn đầu tư lên tới 50 - 60 tỷ đồng/năm nhưng chỉ có 3 cán bộ kế hoạch theo dõi, mảng tin học toàn tỉnh chỉ có 1 kỹ sư; trong khi phòng Hành chính lại dư thừa 3 nhân viên nuôi dạy trẻ không còn việc làm.

Giải pháp mang tính bước ngoặt nhất được đề xuất trong luận văn là gì? Chuyển đổi toàn diện sang cơ cấu trực tuyến - chức năng, thành lập các phòng chức năng chính thức có Trưởng/Phó phòng, bổ sung 1 Phó Giám đốc khối kỹ thuật và áp dụng công nghệ thông tin vào quản trị mạng lưới.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thành tựu tăng trưởng vượt bậc của Bưu điện Hà Tây giai đoạn 1993 - 1997 với mạng lưới hơn 30.000 số máy tại trên 30 điểm tổng đài điện tử.
  • Đã nhận diện chính xác các hạn chế cốt lõi của mô hình chuyên viên trực tuyến, tình trạng quá tải tại Ban Giám đốc và sự mất cân đối trong phân bổ lao động gián tiếp.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm biện pháp khả thi về kiện toàn cơ cấu trực tuyến - chức năng, tinh giản biên chế thừa, bổ sung nhân sự công nghệ và phân cấp quản lý huyện thị.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học thực chứng có giá trị cao cho quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp bưu chính viễn thông thời kỳ đầu hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Các đơn vị quản lý cần khẩn trương áp dụng lộ trình tái cấu trúc tổ chức từ 12 đến 18 tháng để tối ưu hóa chi phí vận hành và nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững trên thị trường.