Tổng quan luận án

Văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế, việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm quan trọng đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đa dạng, thống nhất của 54 dân tộc, trong đó dành sự quan tâm đến văn hóa của các dân tộc thiểu số.

Tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, đồng bào Tày sinh sống lâu đời với hệ thống văn hóa truyền thống gắn bó mật thiết với môi trường tự nhiên và xã hội vùng núi Đông Bắc. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Định Hóa được chọn làm An toàn khu Trung ương (ATK) - Thủ đô kháng chiến của cả nước. Do đó, văn hóa của người Tày nơi đây mang nét đặc thù khi văn hóa truyền thống đan xen với các giá trị văn hóa cách mạng. Trải qua hơn 35 năm Đổi mới, nhiều giá trị văn hóa của người Tày ở Định Hóa đã và đang biến đổi để thích ứng với điều kiện mới; bên cạnh những chuyển biến phù hợp với đời sống hiện đại, một số nét đặc trưng đang đứng trước nguy cơ phai nhạt hoặc biến dạng. Mặc dù địa phương đã triển khai Đề án "Phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống các dân tộc huyện Định Hóa", quá trình thực thi trên thực tế vẫn chưa đồng bộ, chưa phát huy đầy đủ các giá trị đặc trưng để văn hóa trở thành động lực phát triển bền vững. Mặt khác, các nghiên cứu lý luận về biến đổi văn hóa tộc người trong bối cảnh xây dựng kinh tế số, xã hội số và chuyển đổi số vẫn còn những khoảng trống cần được bổ sung. Việc lựa chọn đề tài nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa của người Tày tại huyện Định Hóa xuất phát từ chính yêu cầu khoa học và thực tiễn cấp bách này.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở tổng hợp, luận giải và bổ sung cơ sở lý luận về biến đổi văn hóa và biến đổi văn hóa tộc người, tiến hành nghiên cứu thực trạng biến đổi văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên hiện nay; nhận diện các giá trị văn hóa đặc trưng cần được bảo tồn, phát huy; phân tích các yếu tố tác động, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa người Tày ở huyện Định Hóa trong giai đoạn tiếp theo.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài để phân tích và tìm ra hướng đi có đóng góp mới; tổng hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về biến đổi văn hóa các dân tộc thiểu số trong bối cảnh đổi mới và hội nhập.
  2. Tập trung phân tích, làm rõ các yếu tố tác động đến sự biến đổi văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa hiện nay; nhận diện những biến đổi văn hóa trên một số thành tố cơ bản thuộc văn hóa vật chất.
  3. Phân tích sự biến đổi văn hóa tinh thần của người Tày ở huyện Định Hóa hiện nay; sử dụng các nguồn tư liệu để so sánh, làm rõ sự tương đồng và khác biệt trong biến đổi văn hóa của người Tày ở Định Hóa với một số địa phương khác như Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang.
  4. Làm rõ những vấn đề đặt ra đối với sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Tày huyện Định Hóa; đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong thời gian tới.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết tương ứng được thiết lập bao gồm:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Văn hóa truyền thống của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên có những biến đổi cụ thể như thế nào từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển?
    • Giả thuyết: Văn hóa người Tày bắt đầu có sự biến đổi từ sau năm 1986 và biến đổi nhiều từ thời điểm 2015 đến nay. Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần truyền thống của người Tày đã vận động và biến đổi khá nhiều.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Những thành tố văn hóa nào mang giá trị đặc trưng văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cần được bảo tồn và phát huy?
    • Giả thuyết: Các thành tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cần phải được bảo tồn và phát huy.
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Nguyên nhân nào dẫn đến sự biến đổi văn hóa của người Tày? Làm thế nào để văn hóa tộc người Tày vừa tiếp nhận được những giá trị văn hóa mới của thời đại, song vẫn giữ được bản sắc riêng của mình?
    • Giả thuyết: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, sự bùng nổ của xã hội thông tin, sự phát triển của truyền thông đại chúng (phát thanh, truyền hình), đặc biệt là internet và mạng xã hội, cùng sự giao lưu văn hóa giữa các vùng miền đã tác động, chi phối và ảnh hưởng đến văn hóa người Tày ở huyện Định Hóa. Để người Tày vừa tiếp thu giá trị mới vừa giữ được bản sắc, cần có các giải pháp đồng bộ, khả thi với sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị và cộng đồng.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự biến đổi văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên hiện nay. Nội hàm đối tượng bao gồm các thành tố được chọn lọc:

  • Văn hóa vật chất: cấu trúc làng bản, nhà ở, trang phục, ẩm thực.
  • Văn hóa tinh thần: ngôn ngữ, lễ hội, hôn nhân, tang ma.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu từ năm 1986 (mốc khởi đầu thời kỳ Đổi mới toàn diện đất nước) đến năm 2022 (thời điểm tác giả tiếp cận, thu thập tư liệu và hoàn thành luận án).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại 4 xã tập trung đông đồng bào Tày sinh sống thuộc huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên gồm xã Phúc Chu, xã Định Biên, xã Điềm Mặc và xã Phú Đình. Trong đó, ba xã Định Biên, Điềm Mặc, Phú Đình thuộc khu di tích lịch sử An toàn khu (ATK) Định Hóa, đã được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân chia theo ba nhóm nội dung học thuật chính:

Nhóm nghiên cứu về văn hóa và biến đổi văn hóa nói chung: Nhiều công trình lý luận tập trung làm rõ vai trò của văn hóa đối với sự phát triển và những chuyển dịch văn hóa trong thời kỳ đổi mới. Giáo trình Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phân tích cơ cấu nền văn hóa gồm văn hóa vật thể, phi vật thể, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần. Các công trình như Văn hóa bản địa Việt Nam - khuynh hướng phát triển hiện đại của Nguyễn Thanh Tuấn, Nền văn hóa mới của Việt Nam của Phan Ngọc, Văn hóa Việt Nam trên con đường giải phóng, đổi mới, hội nhập và phát triển của Đỗ Huy khẳng định bản sắc văn hóa có tính ổn định tương đối nhưng có thể thay đổi dưới tác động của môi trường sống và tiếp xúc bên ngoài. Nguyễn Văn Dân trong Con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập chỉ ra sự đổi mới trên các phương diện chính trị, pháp lý, tiếp thu giá trị thế giới, lối sống và phục hồi văn hóa truyền thống. Quá trình giao thoa, hội nhập văn hóa cũng được nghiên cứu qua các công trình của Vũ Khiêu, Phạm Xuân Nam, Hoàng Trinh (Phương pháp luận về vai trò của văn hóa trong phát triển), Trịnh Thị Kim Ngọc (Con người và văn hóa - Từ lí luận đến thực tiễn phát triển), và Nguyễn Chí Bền (Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa).

Về biến đổi văn hóa, Lê Hồng Lý và cộng sự trong công trình Tổng quan về xu hướng biến đổi văn hóa Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI (2001-2010) và dự báo thập niên tiếp theo (2011-2020) đã khái quát tác động của công nghệ thông tin đến các chiều hướng văn hóa. Mai Văn Hai và Phạm Việt Dũng (Xu hướng biến đổi trong văn hóa và lối sống ở Việt Nam) xác định 5 lĩnh vực biến đổi cơ bản: cá nhân gắn với gia đình, cơ cấu lứa tuổi, quan hệ láng giềng, văn hóa tiêu dùng và triết lý sống. Nguyễn Thị Phương Châm và Trương Thị Minh Hằng (Những xu hướng biến đổi văn hóa ở nông thôn và đô thị Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI (2001-2010)) chỉ ra các xu hướng: dân tộc hóa, quốc tế hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa, chính trị hóa, đời thường hóa và cá nhân hóa. Đỗ Lan Phương (Những nhân tố tác động đến biến đổi văn hóa Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI (2001-2010)) phân tích 6 phương diện tác động gồm kinh tế - xã hội, phục hưng văn hóa truyền thống, tôn giáo, truyền thông đại chúng và giao lưu quốc tế. Ngoài ra, Trần Hữu Sơn nghiên cứu Các xu hướng biến đổi lễ hội hiện nay; Nguyễn Thế An phân tích Vai trò của thanh niên trong xây dựng đời sống văn hóa; Lê Anh Tuấn và Nguyễn Thị Hồng Tâm khảo sát Nhận thức của giới trẻ về tiếp biến văn hóa trong bối cảnh phát triển du lịch quốc tế hiện nay; Nguyễn Văn Kim (chủ biên, 2016) công bố công trình Tiếp biến và hội nhập văn hóa ở Việt Nam.

Nhóm nghiên cứu về văn hóa dân tộc thiểu số và văn hóa người Tày: Về văn hóa các dân tộc thiểu số, tiêu biểu có các công trình của Phan Đăng Nhật (Văn hoá các dân tộc thiểu số - những giá trị đặc sắc), Hoàng Nam (Tổng quan văn hóa truyền thống các dân tộc Việt Nam), Vương Xuân Tình và Trần Hồng Hạnh (Phát triển bền vững văn hóa tộc người trong quá trình hội nhập ở vùng Đông Bắc), Ngô Đức Thịnh (Văn hóa, Văn hóa tộc người và Văn hóa Việt Nam).

Về văn hóa người Tày, các ghi chép cổ đã xuất hiện trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn và Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Thời kỳ thuộc Pháp, các học giả phương Tây như Bigot - Alfred có các bài viết năm 1937, 1939; Bonifacy công bố khảo cứu truyện cổ tích Thổ (1915), khởi nghĩa năm 1833 (1914) và lễ tết người Tày ở Hồ Bồ (1915); Dugnet Edonar nghiên cứu ngữ pháp, từ vựng tiếng Thổ (1907, 1910); Ginard Dhenry ghi chép về người Thổ ở Thượng du Bắc kỳ (1898); cùng các tác giả Jeanne Cuisinier, Barker, Milton E. Sau năm 1954 và 1986, các nhà nghiên cứu trong nước xuất bản nhiều công trình quan trọng: Lã Văn Lô và Hà Văn Thư với Văn hóa Tày - Nùng; Bế Viết Đẳng với Một số vấn đề lịch sử tộc người và những đặc điểm chủ yếu của văn hóa các dân tộc Tày - Thái và Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam (Viện Dân tộc học xuất bản năm 1992); Hoàng Hoa Toàn và Đàm Thị Uyên với Nguồn gốc lịch sử tộc người Tày vùng biên giới phía Bắc Việt Nam; Đỗ Thúy Bình nghiên cứu tập quán tang ma trong Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam; Hoàng Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Huy Phách xuất bản Văn hóa truyền thống Tày - Nùng; Hoàng Quyết và Tuấn Dũng khảo sát Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc; Nguyễn Thị Thanh Nga (2010) công bố Các dân tộc vùng Tây Bắc; Dương Thuấn (2012) xuất bản chuyên luận Văn hóa Tày ở Việt Nam và tiến trình hội nhập thế giới; Lường Thị Hạnh (2014) khảo sát tập quán trong Tang ma của người Tày ở Bắc Kạn.

Nhóm nghiên cứu về biến đổi văn hóa người Tày: Lê Sỹ Giáo nghiên cứu Biến đổi văn hóa của cư dân Tày - Thái Việt Nam ven sông Hồng trong bối cảnh toàn cầu hóa; Hoàng Ngọc La và Hoàng Hoa Toàn (1999) thực hiện đề tài cấp bộ Tín ngưỡng dân gian Tày lịch sử và hiện tại; Vũ Phương Nga (luận án tiến sĩ Nhân học) nghiên cứu Tiếp biến văn hóa trong bối cảnh gia đình hỗn hợp dân tộc (qua nghiên cứu về người Tày ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn); Nguyễn Thị Song Hà (chủ biên, tháng 5/2021) xuất bản công trình Biến đổi văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam từ Đổi mới đất nước đến nay dày 626 trang gồm 5 chương, phân tích biến đổi văn hóa vật chất, tinh thần và chính sách quản lý nhà nước qua khảo sát 22 dân tộc tại 11 tỉnh thành.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Mặc dù các công trình đã phác họa bức tranh chung về văn hóa và biến đổi văn hóa người Tày ở phạm vi cả nước hoặc một số tỉnh miền núi, việc nghiên cứu biến đổi văn hóa người Tày tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên vẫn còn bị bỏ ngỏ. Hầu hết các nghiên cứu trước đây chưa làm rõ các sắc thái biến đổi tại một không gian văn hóa đặc thù - nơi văn hóa tộc người Tày gắn liền với căn cứ địa kháng chiến ATK và chịu tác động mạnh mẽ của công cuộc xây dựng nông thôn mới, chuyển đổi số hiện nay. Luận án lựa chọn địa bàn Định Hóa để làm rõ sự biến đổi của các thành tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phù hợp với định hướng phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên hệ thống các khái niệm công cụ, các lý thuyết nhân học - văn hóa học và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam:

  • Các khái niệm cơ bản: Định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh (1943), định nghĩa của UNESCO (1982 tại Hội nghị quốc tế ở Mêhicô) và quan niệm của các nhà khoa học Nga (thập niên 1960). Cấu trúc văn hóa được tiếp cận theo phân nhánh văn hóa vật chất (đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại) và văn hóa tinh thần (hệ tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, nghệ thuật). Khái niệm biến đổi văn hóa (cultural change) tiếp cận qua luận điểm của Dennis O'Neil (xác định 3 nguồn gốc biến đổi: áp lực nội tại xã hội, sự tiếp xúc giữa các xã hội và biến đổi môi trường tự nhiên) và quan điểm của Nguyễn Thị Song Hà (hai xu hướng: từ bỏ bản sắc hoặc biến đổi thích ứng). Khái niệm văn hóa tộc người dựa trên các luận điểm của Ngô Đức Thịnh, Lê Ngọc Thắng và Nguyễn Từ Chi (hai diện mạo: môi trường định cư và nguồn gốc tộc người). Khái niệm giá trị văn hóa dựa theo quan điểm của James Peoples, Garrick Bailey và C. Kluckhohn (1951).
  • Hệ thống lý thuyết tiếp cận: Thuyết Tiến hóa văn hóa của Edward Burnett Tylor và Lewis Henry Morgan (1877); Thuyết Truyền bá văn hóa của G. Rives (1914); Thuyết Vùng văn hóa của A.L. Kroeber (1925); Thuyết Tiếp biến văn hóa của Robert Redfield (1934) và Leonard Broom (1954); Thuyết Chức năng và Chức năng luận Cấu trúc của Bronislaw Malinowski (1944) và A. Radcliffe-Brown (1952); Thuyết Biến đổi văn hóa của Julian Steward (nhấn mạnh tính vận động tuyệt đối của văn hóa dưới tác động nội sinh và ngoại sinh); Lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người.
  • Quan điểm đường lối của Đảng: Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII và phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả triển khai trên thực địa:

Phương pháp nghiên cứu Quy mô / Dữ liệu thực tế Đối tượng / Kỹ thuật thực hiện
Thu thập, tổng hợp tư liệu Sách, báo, tạp chí, đề tài, luận án, báo cáo hành chính Phân tích tài liệu thứ cấp, số liệu thống kê kinh tế - xã hội
Điền dã dân tộc học Các đợt khảo sát (trung bình 1 tuần/chuyến) tại các bản Tày Quan sát cảnh quan, môi trường cư trú; Quan sát tham dự các dịp lễ tết, sinh hoạt thường ngày; Phỏng vấn hồi cố
Phỏng vấn sâu 20 người Già làng, nghệ nhân, thanh niên, thầy tào, thầy cúng, trưởng/phó thôn, đại diện đoàn thể (phụ nữ, nông dân, thanh niên), cán bộ văn hóa xã, lãnh đạo địa phương, người dân
Thảo luận nhóm 05 cuộc thảo luận nhóm hỗn hợp Đại diện các nhóm giới tính, độ tuổi, công việc và mối quan tâm khác nhau
Điều tra xã hội học Phát ra 120 phiếu, thu về 100 phiếu hợp lệ Hộ gia đình người Tày tại 4 xã: Phúc Chu, Định Biên, Điềm Mặc, Phú Đình; xử lý số liệu định lượng bằng phần mềm SPSS
Phương pháp chuyên gia Các cuộc trao đổi, thảo luận trực tiếp Chuyên gia nghiên cứu văn hóa, chuyên gia nghiên cứu về dân tộc Tày
Phương pháp liên ngành Tiếp cận đa ngành Kết hợp lịch sử, văn hóa học, dân tộc học/nhân học, xã hội học
Phương pháp so sánh So sánh lịch đại và so sánh đồng đại So sánh trước và sau năm 1986; so sánh giữa Định Hóa với Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang

Nguồn dữ liệu của luận án kết hợp giữa tài liệu thống kê thứ cấp từ Ủy ban nhân dân huyện Định Hóa (Báo cáo năm 2019, số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, 2019) và nguồn tư liệu sơ cấp thu được qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và 100 phiếu điều tra bảng hỏi tại 4 xã địa bàn nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu

Chương 1 trình bày tổng quan các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, các khái niệm công cụ và làm rõ bối cảnh địa bàn nghiên cứu.

Huyện Định Hóa nằm ở phía tây bắc tỉnh Thái Nguyên, tọa độ địa lý từ 105°29’ đến 105°43’ kinh độ đông, 21°45’ đến 22°30’ vĩ độ bắc. Phía tây và tây bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Bắc Kạn, phía nam và đông nam giáp các huyện Đại Từ, Phú Lương. Huyện lỵ là thị trấn Chợ Chu, cách thành phố Thái Nguyên 50 km. Huyện có 24 đơn vị hành chính cấp xã (1 thị trấn và 23 xã), tổng diện tích tự nhiên là 520,75 km².

Cơ cấu sử dụng đất của huyện Định Hóa được phân bổ như sau:

  • Đất lâm nghiệp: 221,70 km²
  • Đất chưa sử dụng: 183,98 km²
  • Đất nông nghiệp: 99,29 km²
  • Đất chuyên dùng: 8,46 km²
  • Đất ở: 7,33 km²

Địa hình huyện Định Hóa mang tính hiểm trở, thuộc dạng núi thấp đồi cao, thấp dần từ tây bắc xuống đông nam và chia thành hai vùng: phía bắc là các dãy núi đá vôi cánh cung Sông Gâm (cao từ 200 đến 400 m so với mực nước biển); phía nam là các đồi núi thấp, rừng già, đất phù sa ven suối thích hợp trồng lúa và cây công nghiệp như chè. Khí hậu mang tính nhiệt đới hai mùa: mùa mưa (nóng) chiếm 85% - 90% lượng mưa cả năm; mùa khô (lạnh, ít mưa) chiếm 10% - 15%.

Về dân cư, theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, toàn huyện có 17 dân tộc sinh sống (tăng 3 dân tộc so với năm 2009). Dân tộc Tày chiếm đa số với 48.897 người, tiếp đến là dân tộc Kinh (23.000 người) cùng các dân tộc khác như Nùng, Sán Chay, Dao, Hoa, Sán Dìu, H Mông. Toàn huyện có 26.288 hộ; phân bố gồm 1.908 hộ ở thành thị và 24.380 hộ ở nông thôn; dân số nam là 44.929 người, dân số nữ là 44.928 người (tổng số 89.857 người); so với năm 2009, số hộ tăng 2.221 hộ, số nhân khẩu tăng 3.447 người.

Tình hình sản xuất nông, lâm, thủy sản của huyện Định Hóa năm 2019 đạt các chỉ tiêu cụ thể:

Chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp (Năm 2019) Kết quả thực hiện Tỷ lệ đạt kế hoạch (%) So sánh với năm 2018
Tổng sản lượng lương thực có hạt 51.340 tấn 99,8% Tăng 0,4%
Sản lượng lúa 47.090 tấn 100,02% Tăng 5,0%
Diện tích cấy lúa 8.746 ha 100,4% -
Năng suất lúa bình quân 53,64 tạ/ha - -
Sản lượng ngô 4.250 tấn 96,8% -
Diện tích trồng ngô 926,16 ha / 990 ha 93,55% -
Năng suất ngô 44,43 tạ/ha - -
Sản lượng khoai lang 1.129 tấn 96,45% Tăng 9,8%
Diện tích khoai lang 191,35 ha / 200 ha 95,67% -
Sản lượng lạc 185,3 tấn / 183 tấn 101,25% Tăng 6,0%
Diện tích lạc 117,3 ha / 115 ha 102,0% -
Diện tích chè 2.647 ha - -
Sản lượng chè búp tươi 25.538 tấn 102,2% -
Sản lượng thủy sản 1.100 tấn 103,0% -
Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản (giá 2010) 1.028 tỷ đồng 99,9% -
Giá trị sản phẩm trên 01 ha đất trồng trọt 85,2 triệu đồng 102,7% -

Đặc điểm văn hóa truyền thống người Tày tại Định Hóa được khái quát:

  • Sinh kế: Trồng trọt lúa nước ven suối, canh tác nương rẫy, bón phân chuồng, sử dụng cọn nước dẫn nước từ khe suối lên ruộng; trồng chè xuất khẩu; chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá và các nghề dệt vải, đan lát, làm mộc.
  • Văn hóa vật chất: Cư trú thành bản (quy mô 30 - 60 nóc nhà, tên gắn với các từ "nà", "pác", "khuổi"); nhà ở truyền thống là nhà sàn bằng tre nứa (có xu hướng chuyển dần sang nhà đất, nhà nửa sàn nửa đất); trang phục may từ vải bông hoặc tơ tằm tự dệt nhuộm chàm, không có hoa văn trang trí (chỉ thêu trên mũ, yếm trẻ em và áo thầy cúng); ẩm thực dùng cơm tẻ, xôi, các loại bánh từ gạo, ngô, khoai, các món thịt vịt quay, khâu nhục, các loại rau rừng, măng, nấm, đồ uống gồm chè, nước vối, nhân trần và rượu.
  • Văn hóa tinh thần: Làn điệu then kết hợp đàn tính, hát lượn, cọi, ru, đồng dao, nhảy sạp, hát ví; trò chơi dân gian ném còn, đẩy gậy, cà kheo; lễ hội Lồng tồng vào đầu xuân, lễ cơm mới, lễ cúng thần ruộng, thần lúa; tín ngưỡng chia thế giới siêu nhiên thành ma lành (tổ tiên, ma bếp, thổ công, bà mụ) và ma dữ (ma sông, ma núi, ma cây to, ma chết tai nạn, ma gà); thờ cúng tổ tiên, Vua Bếp, Bà Mụ, Thần Tài và Thổ Công (miếu thờ lập ở đầu hoặc cuối làng bản).
  • Văn hóa xã hội: Gia đình nhỏ phụ hệ; tồn tại tục nhận con nuôi (gồm con nuôi đỡ đầu, chữa bệnh, truyền nghề hoặc con nuôi thừa tự) và tục kết bạn tồng (gắn kết nghĩa tình, có trách nhiệm hiến tế và để tang khi cha mẹ bạn qua đời). Trình độ học vấn của thế hệ trẻ ngày càng được nâng cao nhờ các chính sách giáo dục dân tộc.

Chương 2. Biến đổi văn hóa vật chất của người Tày, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng biến đổi của bốn thành tố văn hóa vật chất tiêu biểu: cấu trúc làng bản, nhà ở, trang phục và ẩm thực. Dưới tác động của phong trào xây dựng nông thôn mới và quá trình hiện đại hóa nông thôn, không gian cư trú truyền thống của các bản làng người Tày có sự sắp xếp lại; hệ thống giao thông bê tông hóa làm thay đổi tính khép kín của bản truyền thống. Về kiến trúc nhà ở, mô hình nhà sàn gỗ, tre nứa truyền thống lợp lá cọ dần giảm đi, thay vào đó là xu hướng xây dựng nhà xây gạch kiên cố (nhà đất) hoặc nhà nửa sàn nửa đất để phù hợp với điều kiện sinh hoạt mới và sự khan hiếm của vật liệu gỗ rừng tự nhiên. Trang phục chàm cổ truyền hầu như không còn được sử dụng trong lao động hàng ngày mà chuyển sang trang phục phổ thông của người Kinh; áo chàm truyền thống chủ yếu được bảo lưu và sử dụng trong các dịp lễ hội, nghi lễ tín ngưỡng hoặc biểu diễn văn nghệ. Trong ẩm thực, bên cạnh việc duy trì các món ăn truyền thống mang tính nghi lễ (vịt quay, khâu nhục, xôi ngũ sắc, các loại bánh), cơ cấu bữa ăn hàng ngày đã có sự giao thoa mạnh mẽ với văn hóa ẩm thực hiện đại thông qua sự xuất hiện của các loại thực phẩm chế biến sẵn và hàng hóa công nghiệp.

Chương 3. Biến đổi văn hóa tinh thần của người Tày, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Chương 3 tập trung nhận diện và đánh giá mức độ biến đổi của bốn thành tố văn hóa tinh thần cốt lõi: ngôn ngữ, lễ hội, hôn nhân và tang ma. Về ngôn ngữ, tiếng Tày đứng trước nguy cơ mai một trong thế hệ trẻ khi tiếng Việt trở thành ngôn ngữ giao tiếp chủ đạo trong gia đình và trường học. Về lễ hội, lễ hội Lồng tồng (xuống đồng) đầu xuân được chính quyền và cộng đồng phục dựng, song có sự đan xen giữa nghi thức truyền thống với các hoạt động hành chính hóa, sự kiện hóa và khai thác du lịch. Trong phong tục hôn nhân, các thủ tục cưới hỏi phức tạp trước đây đã được giản lược hóa, giảm bớt các nghi lễ rườm rà, tuân thủ Luật Hôn nhân và Gia đình, xuất hiện nhiều cuộc hôn nhân hỗn hợp dân tộc (giữa người Tày và người Kinh). Nghi lễ tang ma vẫn duy trì các bước chính như rửa mặt, khâm liệm, đại siêu, xên đàn phá ngục, đưa ma do thầy tào, thầy cúng thực hiện, nhưng thời gian tổ chức tang lễ đã được rút ngắn, giảm thiểu các hủ tục tốn kém theo quy ước nếp sống văn hóa mới. Đồng thời, chương này tiến hành so sánh biến đổi văn hóa tinh thần của người Tày ở Định Hóa với người Tày ở Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang nhằm xác định các nét biến đổi tương đồng và các giá trị đặc thù của vùng căn cứ địa ATK.

Chương 4. Những yếu tố tác động đến sự biến đổi văn hóa và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới

Chương 4 phân tích hai nhóm yếu tố chi phối quá trình biến đổi văn hóa:

  • Yếu tố nội sinh: Sự biến đổi môi trường tự nhiên, cạn kiệt tài nguyên rừng, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội tại của địa phương và sự thay đổi nhu cầu, tâm lý, lối sống của các thế hệ chủ thể văn hóa người Tày.
  • Yếu tố ngoại sinh: Tác động của chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách xây dựng nông thôn mới; quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa; sự phát triển của công nghệ thông tin, internet, mạng xã hội; tác động của kinh tế thị trường và các hoạt động phát triển du lịch di tích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa.

Từ việc đánh giá thực trạng và các yếu tố tác động, chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Nâng cao nhận thức của cộng đồng người Tày và chính quyền địa phương về vai trò của di sản văn hóa tộc người.
  • Đẩy mạnh gắn kết giữa bảo tồn văn hóa truyền thống với Đề án phát triển du lịch cộng đồng tại các xã vùng ATK Định Hóa (Điềm Mặc, Định Biên, Phú Đình).
  • Khôi phục, truyền dạy chữ viết, tiếng nói, nghệ thuật hát then, đàn tính và các tri thức dân gian thông qua câu lạc bộ và trường học.
  • Hoàn thiện cơ chế chính sách, huy động các nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng văn hóa, hỗ trợ các nghệ nhân, già làng và người có uy tín trong việc trao truyền văn hóa dân tộc.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về biến đổi văn hóa, biến đổi văn hóa tộc người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và giao lưu tiếp biến văn hóa. Công trình làm rõ khung phân tích tiếp biến văn hóa đối với một cộng đồng dân tộc thiểu số tại vùng căn cứ địa lịch sử, bổ sung dữ liệu lý luận về sự tác động đan xen giữa văn hóa tộc người truyền thống và văn hóa cách mạng.

Về mặt thực tiễn, luận án đã làm sáng tỏ thực trạng biến đổi văn hóa của người Tày tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên từ sau năm 1986 đến năm 2022 trên cả hai phương diện văn hóa vật chất (làng bản, nhà ở, trang phục, ẩm thực) và văn hóa tinh thần (ngôn ngữ, lễ hội, hôn nhân, tang ma). Công trình cung cấp hệ thống số liệu định lượng (xử lý qua phần mềm SPSS từ 100 phiếu điều tra) và tài liệu điền dã dân tộc học thực tế phản ánh trung thực diện mạo đời sống văn hóa đương đại. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa, đồng thời cung cấp căn cứ tư vấn cho các cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên và huyện Định Hóa trong việc hoạch định chính sách bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch cộng đồng bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi không gian khảo sát thực địa mới tập trung chủ yếu tại 4 xã (Phúc Chu, Định Biên, Điềm Mặc, Phú Đình), chưa bao quát toàn bộ 24 xã, thị trấn của huyện Định Hóa.
  • Về nội dung, tác giả chủ động giới hạn ở một số thành tố tiêu biểu của văn hóa vật chất (làng bản, nhà ở, trang phục, ẩm thực) và văn hóa tinh thần (ngôn ngữ, lễ hội, hôn nhân, tang ma), chưa phân tích sâu toàn bộ các khía cạnh văn hóa xã hội, tri thức dân gian hay văn hóa nghệ thuật khác.
  • Thời gian cho mỗi đợt điền dã thực tế kéo dài trung bình một tuần, dung lượng mẫu điều tra xã hội học dừng lại ở mức 100 phiếu hợp lệ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các xã còn lại của huyện Định Hóa và các địa bàn giáp ranh thuộc vùng Đông Bắc để so sánh quy mô biến đổi trên diện rộng.
  • Đi sâu nghiên cứu tác động của chuyển đổi số, mạng xã hội và kinh tế số đối với sự biến đổi các hình thức tín ngưỡng Then, Tào và sự bảo lưu tiếng nói của thế hệ trẻ người Tày.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Dân tộc học, Văn hóa dân gian và Quản lý văn hóa.
  • Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý văn hóa thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Định Hóa.
  • Ban Quản lý Khu di tích lịch sử An toàn khu (ATK) Định Hóa và các đơn vị xây dựng sản phẩm du lịch cộng đồng, du lịch về nguồn.

Nội dung đáng tham khảo nhất trong luận án là phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về biến đổi văn hóa tộc người ở Chương 1, hệ thống tư liệu điền dã dân tộc học về phong tục hôn nhân, tang ma, lễ hội Lồng tồng, cùng hệ thống giải pháp gắn bảo tồn văn hóa với sinh kế du lịch cộng đồng ở Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi thời gian và địa bàn không gian nghiên cứu cụ thể của luận án được xác định như thế nào?
Luận án nghiên cứu sự biến đổi văn hóa từ mốc Đổi mới năm 1986 đến năm 2022 (thời điểm tác giả khảo sát và hoàn thành luận án). Không gian nghiên cứu tập trung tại 4 xã của huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên gồm Phúc Chu, Định Biên, Điềm Mặc và Phú Đình, trong đó có 3 xã thuộc khu di tích quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa.

2. Mẫu khảo sát thực tế và các công cụ thu thập thông tin của luận án gồm những gì?
Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 20 cá nhân (già làng, nghệ nhân, thanh niên, thầy tào, thầy cúng, trưởng/phó thôn, cán bộ đoàn thể, cán bộ văn hóa xã, người dân); tổ chức 05 cuộc thảo luận nhóm hỗn hợp; phát 120 phiếu điều tra bảng hỏi tại 4 xã và thu về 100 phiếu hợp lệ, xử lý số liệu định lượng bằng phần mềm SPSS.

3. Những thành tố văn hóa cụ thể nào được tác giả lựa chọn để nghiên cứu sự biến đổi?
Luận án lựa chọn 8 thành tố tiêu biểu: văn hóa vật chất gồm cấu trúc làng bản, nhà ở, trang phục, ẩm thực; văn hóa tinh thần gồm ngôn ngữ, lễ hội, hôn nhân, tang ma.

4. Người Tày tại Định Hóa có những tập quán xã hội đặc thù nào được ghi nhận trong văn bản?
Đồng bào Tày tại Định Hóa duy trì cấu trúc gia đình nhỏ phụ hệ, có tập quán kết bạn tồng (người cùng giới kết nghĩa thân thiết, có trách nhiệm sắm lễ hiến tế và để tang khi cha mẹ bạn qua đời) và tục nhận con nuôi (gồm con nuôi đỡ đầu, chữa bệnh, truyền nghề hoặc con nuôi thừa tự đón về nuôi dưỡng).

5. Cơ cấu dân số người Tày chiếm tỷ lệ như thế nào tại huyện Định Hóa theo số liệu năm 2019?
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, toàn huyện Định Hóa có 17 dân tộc với tổng dân số 89.857 người (44.929 nam và 44.928 nữ). Người Tày chiếm đa số với 48.897 người, tiếp đến là người Kinh với 23.000 người.

Kết luận

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học với đề tài "Biến đổi văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên hiện nay" đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về biến đổi văn hóa tộc người và phản ánh trung thực thực trạng chuyển dịch văn hóa từ năm 1986 đến năm 2022. Công trình làm rõ sự vận động của các thành tố văn hóa vật chất và tinh thần trong không gian văn hóa cách mạng ATK Định Hóa dưới tác động của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh. Hệ thống dữ liệu điền dã kết hợp điều tra định lượng và các giải pháp đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác bảo tồn di sản và phát triển kinh tế - xã hội địa phương.