Chương 1. Một sô vân dé khai quát về bao hộ chông lần giữa nhãn hiệu va quyên tác giả. Thực trang pháp luật Việt Nam về bảo hộ chồng lần giữa nhãn. hiệu và quyền tác giả Chương 3.
Một sô kiên nghị hoàn thiên va nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong bảo hô chồng lân giữa nhãn hiệu và quyền tác giả CHUONG 1: MỘT SÓ VAN DE KHÁI QUAT VE BẢO HO CHONG LAN GIỮA NHÃN HIỆU VÀ QUYEN TÁC GIA 1. Khái quátvề nhấn liệu và cơ chế bảo hộ nhấn liệu DA: Khải niệm nhãn hiệu Nghiên cứu của các nha khảo cỗ hoc đã xác định được những dâu hiệu đâu tiên trên thé giới ra đời từ thời La Mã cỗ đại, khi các nha sẵn xuất đã biết sử dung những dau hiệu riêng trên đô gôm, đô trang sức, vũ khí. để đánh dau sản phẩm của họ. Cùng với sự phát triển của kinh tế hang hóa, dén thời kỳ công nghiệp (thé kỷ 18 va 19), sự phát triển của công nghiệp vả quy mô sản xuất lớn hơn đã đặt ra nhu cau tăng cường việc nhận diện thương hiệu.
Các doanh nghiép sản xuất hàng loạt đã bắt đâu sử dung dau hiệu riêng dé phân biệt sản phẩm của ho. Dau hiệu nhận biết nay được gọi là “ziấn liệu” Ngày nay, thuật ngữ “zruấn hiệu” đã được sử dụng rộng rãi, phát triển thành một trong những tai sản có gia trị lớn trong kinh doanh. Nhin vào quy mô nhận biết của khách hang đối với một nhãn hiệu, người tiêu dùng có thể đánh giá được su uy tín của nha sản xuất, nha cung ứng dịch vụ trên thị trường, đồng thời gop phan to lớn vào việc chiêm lĩnh thị trường của doanh nghiệp! Cho đến nay đã có khá nhiêu các điều ước quốc tê song phương va đa phương điều chỉnh các van dé liên quan đến nhấn hiệu (co thể kể đến như: Công ước Paris 1883, Hệ thong Madrid, Hiệp định TRIPS 1994). Tuy Công ước Paris, Hệ thong Madrid chưa đưa ra khái niệm nhãn hiệu những đã quy định các điều khoản liên quan đến việc bảo hộ các đối tương sở hữu công nghiệp.
Riêng Hiệp định TRIPS là điều ước quốc tế đâu tiên đưa ra khái niệm nhãn hiệu tại Khoản 1 Điều 15, theo đó: “Bat ig} một dấm hiệu hoặc t6 hợp các déu hiệu nào có kha năng phân biệt hàng hóa hoặc dich vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dich vụ của các 1 Đố Ngọc Thanh (2004), Bao hộ nhễn liệu hàng hóa theo hiệp đình thương mạc Việt Nem — Hoa KỆ, Luận vin Thạc sĩ it hoc, Tường Daihoc Luật Hà Nội, Hà Nội,tr1. 6 doanh nghiệp Rhác đều có thê làm nhấn hiệu. Các dẫu hiệu đó, đặc biệt là các từ kê cả tên riêng. các chit cdi, chữ số, các yen tô hình hoa và té hợp các màu sắc cũng như t6 hợp bat kì của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa ” Như vậy, theo Hiệp định trên, việc xác định một dâu hiệu bat kỳ có thé đăng ky lam nhãn hiệu hay không la căn cứ vào mục dich sử dụng và tính phân bị ệt của các dau hiệu đó.
Đây cũng là cách tiếp can mang tinh pho biến của nhiều quốc gia khi đưa ra khái niệm về nhãn hiệu, hình thành một cách hiểu chung tương đối thống nhất về nhấn hiệu. Ngoài ra, theo định nghĩa của Tô chức sở hữu trí tuê thé giới (WIPO), “nhdin hiệu la các dẫu hiệu ding đề phân biệt hang hóa, dich vụ cùng loại hoặc tương tr của các cơ sở san xuất, kinh doanh khác nhau”. Ké thừa những ưu điểm của việc xác định nhãn hiệu của các nước trên thé giới, tại Việt Nam, khái niệm “nhdin hiệu” đã được quy định tại Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 (sửa đôi, bd sung các năm 2009, 2019, 20223, như sau: “Nhdin hiệu là dau hiệu ding dé phân biệt hàng hóa, địch VỊ của các tô chức, cá nhân khác nha”. Đây là một khai niệm mang tính khái quát và phù hợp với thực tiễn cũng như quy định của các điều ước quốc tế, được thể hiện ở các điểm sau ~ Thứ nhất, “whan hiện” dùng để chỉ những dâu hiệu phân biệt hang hóa, dich vụ.
Bên cạnh nhãn hiệu hang hóa, nhãn hiệu dich vụ, các loại nhãn hiệu hiện còn gém “hdin hiệu tập thé, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu chứng nhân. nhãn hiệu nỗi tiếng” - Thứ hai, khái niệm đã xác định chức năng của nhãn hiệu là để phân biệt hang hóa, dich vụ của các tô chức, cá nhân khác nhau. * Sau diy gọi là Luật Sở hữu trí tuể. - Thứ ba, khái niệm không đưa ra giới hạn hay liệt kê những yếu tô được đăng ký là nhãn hiệu.
PED Co ché bdo hộ nhãn hiệu * Điều kién bảo hộ: Với chức năng cơ bản là dùng dé phân biệt hang hóa, dich vụ, vi vay, điều kiện bảo hộ nhãn hiệu phải được xây dựng dưa trên cơ sở khả năng phân biệt. Điều kiện bảo hô nhãn hiệu được hiểu la những quy chuẩn dưới góc đô pháp luật nhằm đánh gia về kha năng xác lập quyên sở hữu công nghiệp đối với nhấn hiệu. Một dau hiệu muốn được bảo hộ là nhãn hiệu phải đáp ứng day đủ các điều kiện theo Điều 72 của Luật Sở hữu trí tuệ, cụ thể: - Thứ nhật, “là đấu hiệu nhìn thay được dưới dang chit cải, từng: hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hop các yến lô đó, được thé hiện bằng một hoặc nhiều màm sắc hoặc déu hiệu âm thanh thé hiện duoc dưới dang đồ hoa”. Điêu kiên nay được hiểu là nhãn hiệu đó phải được nhận thức, cảm nhận bằng thi giác của con người thông qua việc nhìn ngắm, quan sát, thay được nhãn hiệu để phân biệt được các hàng hóa, dịch vụ.
Hay nói cách khác nhấn hiệu phải tôn tại dưới dạng một vật chat nhật định dé con người có thé nhìn thay được (trừ trường hop thuộc Điêu 73 Luật SHTT). - Thứ hai, nhãn hiệu đó phải “có kha năng phân biệt hàng hóa, địch vụ của chủ sở hiểm nhãn hiệu với hàng hóa, địch vụ của chủ thê Rhác °. Tuy việc đánh giá một nhãn hiệu có khả năng phân biệt hay không phu thuộc vào hiểu biết của người tiêu dùng, nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nêu được tạo thành từ một hoặc một số yêu td dé nhân biết, dé ghi nhớ hoặc tổ hợp nhiều yêu tô thành một tong thể dé nhận biết, dé ghi nhớ va không thuộc Khoản 2 điều 74 Luật SHTT. - _ Ngoài hai điều kiện trên, ở hệ thống quy chuẩn pháp luật các quốc gia khác, nhấn hiệu không được có những đặc tính gây hiểu lâm hoặc vi phạm trật tu công công va đạo đức x4 hội.
Trong trường hợp các nhãn hiệu có nguy cơ lửa dôi về tính chất, chất lương, các đặc tính khác hay về xuất xứ dia ly của hang hóa, người mua sé hiểu lâm về sản phẩm, làm ảnh hưởng đến quyên lợi của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, những từ ngữ và sự minh hoa bi coi la vi phạm các chuẩn mực về dao đức và tôn giáo được chap nhân rộng rãi ở nước đăng ký bao hộ thì nhìn chung không được phép dang ký làm nhãn. Tại Việt Nam, điều kiện nay được quy định tại Điều 73, Điều 74 Luật SHTT về những trường không được bảo hô nhấn hiệu. * Nguyên tắc và căn cứ xác lập quyền: Theo các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam, việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu là không bắt buộc, nhưng cân thiết.
Nhãn hiệu được xác lâp quyên theo nguyên tắc “First to file - Nguyên tắc nộp don đầu tiên”. Theo đó, nhãn hiệu chi có thé được bảo hô déc quyên thông qua việc đăng ky, trừ các nhấn hiéu nổi tiếng Điểma Khoản 3 Điều 6 Luật SHTT quy định về căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuê, quyên sử hữu công nghiệp đối với nhấn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cap văn bang bảo hộ của cơ quan nha nước có thâm quyền theo thủ tục đăng ký nhãn hiệu tương ứng Người được Cục Sở hữu tri tué cap Giây chứng nhận đăng ky nhãn hiệu là chủ sở hữu va được hưởng quyền đối với nhãn hiệu trong phạm vi bảo hộ ghi trong Giây chứng nhận và thời hạn hiệu lực của Giây chứng nhận Khi xảy ra tranh chap, chủ sở hữu nhấn hiệu có quyên sử dụng Giây chứng nhận đăng ký nhãn hiệu lam căn cứ chứng mình quyên của minh ma không cân chứng cứ nao khác. Ngoải ra, nhấn hiệu nổi tiếng thường được bảo hô theo mét cơ chế đặc biệt, không phụ thuộc vao việc đăng ký. Quyên SHCN đổi với nhấn hiệu nổi tiéng được xác lập trên cơ sở thực tiến sử dụng rông rất khiển cho nhãn hiệu đó trở thành nỗi te B củaa, Công ước Parisring các nhin hiệu được bảo hồ theo Điu “Adhicé thể bine choi ding khi “Khong có bất cứ đâm liệt phanbiết nào” hoặc “trái với dao đức, trật ne cong cộng.
gây nhiều lấn cho công ching’ 9 tiếng mà không cân thực hiện thủ tục đăng ký. Khi sử dụng quyên nảy, chủ sỡ hữu nhãn hiệu phải chứng minh quyền của minh bằng các chứng cứ phủ hợp quy định tại Điều 75 Luật SHTT. * Thời hạn bảo hộ: Do chức năng đặc thù của nhãn hiệu là dùng dé phân biệt hang hoa, dich vụ của các tô chức, cá nhân khác nhau nên thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu trên thực tế không bi hạn chế. Song vi một số lý do hành chính, luật nhãn hiệu thường quy định thời han của văn bằng bão hộ nhấn hiệu, theo khoản 6 Điều 93 Luật SHTT là 10 năm, va văn bằng bao hô có thé được gia hạn mỗi khi hết thời han đó.
Khái quáfvề quyên tac giả và cơ chế bảo hộ quyên tac giả Ba: Khải niệm quyền tác giả Khái niệm “guyén fác giả” chỉ xuất hiện khi được pháp luật ghi nhận và bảo hộ lần dau tiên vào năm 1710, khi nghị viện Anh ban hành Đạo luật Anne (the Statue of Anne). Đạo luật ghi nhân QTG được bảo hộ với thời hạn là 14 năm và có thé gia hạn 14 năm tiếp theo. Đồng thời, đạo luật cũng lân đầu ghi nhận độc quyên sao chép của tác giả va ho có thể nhượng lai quyền nay cho nhà in trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận Tiếp sau đó, đạo luật tương tự cũng đã được đưa ra tại Pháp, Đức, Hoa Ky và nhiều nước khác.