Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế toàn diện, hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ đóng vai trò thiết yếu nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đặc biệt trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học. Sự phát triển liên tục của các sản phẩm trí tuệ phụ thuộc đáng kể vào hoạt động kế thừa và biến đổi các tác phẩm đã có để tạo ra tác phẩm phái sinh. Các hình thức phái sinh như dịch thuật, chuyển thể, cải biên hay tuyển chọn góp phần phổ biến và làm phong phú đời sống văn hóa. Tuy nhiên, mối liên hệ mật thiết giữa tác phẩm phái sinh và tác phẩm gốc làm nảy sinh nhiều xung đột phức tạp về quyền tác giả. Thực tế thi hành pháp luật tại Việt Nam cho thấy các vụ tranh chấp sở hữu trí tuệ liên quan đến tác phẩm phái sinh đang gia tăng về số lượng và tính chất nghiêm trọng, trong khi một số quy định pháp luật vẫn bộc lộ hạn chế.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Phương Linh (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2024) tập trung giải quyết mục đích nghiên cứu lý luận, rà soát hệ thống quy định pháp luật hiện hành và đánh giá thực tiễn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh tại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định theo 3 nội dung:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về tác phẩm phái sinh và quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh.
  2. Nghiên cứu hệ thống quy định pháp luật Việt Nam về quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh, từ đó chỉ ra những điểm mới và bất cập trong quy định hiện hành.
  3. Đánh giá toàn diện thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của chủ thể quyền tác giả.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành; các số liệu và vụ việc thực tiễn được thu thập, nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2023.
  • Phạm vi không gian: Quy định pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam; có sự tham khảo, so sánh với quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới (tiêu biểu là Hoa Kỳ, Pháp) và các điều ước quốc tế có liên quan.
  • Phạm vi nội dung: Phân tích các khía cạnh lý luận, quy định trong các điều ước quốc tế, pháp luật Việt Nam và thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên hệ thống lý luận pháp lý chuyên ngành và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đa tầng, bao gồm cả pháp luật trong nước và điều ước quốc tế:

  • Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022); Nghị định số 17/2023/NĐ-CP ngày 26 tháng 4 năm 2023 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan; Nghị định số 22/2018/NĐ-CP; Nghị định số 85/2011/NĐ-CP; Nghị định số 76/CP năm 1996; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Luật Xuất bản năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).
  • Hệ thống điều ước quốc tế và luật nước ngoài: Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật 1886 (sửa đổi năm 1979 - các Điều 2.2, Điều 2.3, Điều 2.5); Công ước toàn cầu về bản quyền (UCC 1952, sửa đổi năm 1971); Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS 1994 - Điều 10); Điều 101 Chương I Luật Quyền tác giả của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1976; Điều 4(3) Luật Quyền tác giả và Quyền liên quan của Cộng hòa Pháp.
  • Khái niệm và nguyên lý nền tảng: Tác phẩm, tác phẩm gốc, tác phẩm phái sinh, tính sáng tạo nguyên gốc, tính định hình vật chất, nguyên tắc bảo hộ hình thức thể hiện không bảo hộ ý tưởng, quyền nhân thân, quyền tài sản, đồng tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả vận dụng gồm:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác - Lênin.
  • Phương pháp phân tích: Áp dụng xuyên suốt toàn bộ nội dung để làm rõ nội hàm, ý nghĩa và tác động của từng điều khoản pháp luật về quyền tác giả.
  • Phương pháp so sánh: Sử dụng chủ yếu trong Chương I và Chương II nhằm đối chiếu sự thay đổi giữa quy định cũ và mới trong Luật Sở hữu trí tuệ, giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế (Hoa Kỳ, Pháp, các điều ước quốc tế).
  • Phương pháp chứng minh: Dùng để kiểm chứng và củng cố các luận điểm, nhận định về thực trạng pháp lý và thực tiễn thi hành.
  • Phương pháp tổng hợp và quy nạp: Áp dụng để khái quát các phát hiện nghiên cứu, tổng kết đánh giá của các chuyên gia và hình thành các kết luận, kiến nghị.
  • Phương pháp thu thập số liệu và diễn giải: Tập hợp tư liệu, dẫn chứng thực tế từ các vụ việc phát sinh trong giai đoạn 2006–2023.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bắt nguồn từ các văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế, các vụ việc tranh chấp thực tế (tiêu biểu như vụ việc liên quan đến album "Chat với Mozart") và các công trình khoa học tiền nhiệm: luận văn thạc sĩ của Hứa Hải Linh (2020), Nguyễn Đức Thái (2022); các bài nghiên cứu chuyên sâu của Nguyễn Huy Hoàng (2020), Vương Thanh Thúy (2022), Dương Thị Vân Anh và Nguyễn Thị Quỳnh Anh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh

Chương I tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về tác phẩm, tác phẩm phái sinh và cơ chế bảo hộ quyền tác giả.

  • Khái niệm và điều kiện bảo hộ tác phẩm: Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học. Ba điều kiện bảo hộ chung gồm: (1) Tính sáng tạo nguyên gốc (không sao chép nguyên văn, mang dấu ấn trí tuệ của tác giả); (2) Thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định (định hình theo Khoản 1 Điều 13 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, ngoại trừ tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian truyền khẩu hoặc diễn xướng); (3) Không thuộc các trường hợp trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh (Khoản 1 Điều 8) hoặc thuộc đối tượng không bảo hộ theo Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ (tin tức thuần túy, văn bản quy phạm pháp luật, quy trình, hệ thống, nguyên lý).
  • Đặc trưng của tác phẩm phái sinh: Tác phẩm phái sinh mang ba đặc điểm cốt lõi: bắt nguồn từ tác phẩm đã tồn tại và mang dấu ấn tác phẩm gốc; chứa đựng tính sáng tạo nguyên gốc của tác giả tác phẩm phái sinh; được bảo hộ độc lập như một tác phẩm hoàn chỉnh nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc.
  • Phân loại tác phẩm phái sinh: Tác giả phân chia tác phẩm phái sinh theo hai tiêu chí:
    • Dựa vào tính tác động vào tác phẩm gốc: Nhóm tác động vào tác phẩm gốc gồm thay đổi nội dung (tác phẩm phóng tác) và thay đổi hình thức thể hiện (tác phẩm cải biên, tác phẩm chuyển thể); Nhóm không tác động vào tác phẩm gốc (tác phẩm tuyển chọn, hợp tuyển).
    • Dựa vào sự sáng tạo trong cách thay đổi ngôn ngữ: Phân chia thành tác phẩm dịch (chuyển tải sang ngôn ngữ khác) và các tác phẩm phái sinh khác.
  • Bản chất và ý nghĩa bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh: Quyền tác giả phát sinh tự động mà không cần đăng ký. Quyền tác giả phái sinh chỉ bảo hộ phần sáng tạo mới, không mở rộng phạm vi hay kéo dài thời hạn bảo hộ của tác phẩm gốc. Cơ chế bảo hộ hướng tới thiết lập sự cân bằng lợi ích giữa tác giả phái sinh, tác giả gốc và công chúng.

Chương II: Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh

Chương II phân tích chi tiết các quy định pháp luật thực định của Việt Nam sau khi Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2022 và Nghị định số 17/2023/NĐ-CP có hiệu lực.

  • Khái niệm và loại hình tác phẩm phái sinh: Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 sửa đổi định nghĩa tác phẩm phái sinh, bổ sung cụm từ "và các chuyển thể khác", khắc phục tính liệt kê cứng nhắc trước đây. Nghị định số 17/2023/NĐ-CP (Điều 7) cụ thể hóa khái niệm của 7 loại hình tác phẩm phái sinh: tác phẩm dịch, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên và chuyển thể.
  • Điều kiện không phương hại đến tác phẩm gốc: Điểm mới quan trọng tại Khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 quy định trường hợp làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng đến quyền nhân thân (quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm gốc) thì phải có thỏa thuận bằng văn bản của tác giả tác phẩm gốc. Tác giả chỉ ra tính hai mặt: quy định này hợp thức hóa việc xin phép đối với các tác phẩm phỏng tác, cải biên hoặc tác phẩm chế, nhưng cũng có thể hạn chế quyền tài sản của chủ sở hữu nếu tác giả gốc không hợp tác.
  • Chủ thể của quyền tác giả:
    • Tác giả: Là cá nhân trực tiếp sáng tạo. Luật năm 2022 luật hóa định nghĩa đồng tác giả tại Khoản 1 Điều 12a: có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo với chủ ý kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh. Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu không được coi là tác giả hay đồng tác giả.
    • Chủ sở hữu quyền tác giả (Điều 36): Phân biệt giữa chủ sở hữu đồng thời là tác giả và chủ sở hữu không đồng thời là tác giả (giao nhiệm vụ, hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ, thừa kế, chuyển nhượng). Luật mới quy định rõ cơ chế Nhà nước đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý đối với tác phẩm sử dụng ngân sách nhà nước, tác phẩm khuyết danh hoặc tác phẩm vô chủ.
Nội dung đối chiếu Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi 2009, 2019) Luật SHTT sửa đổi năm 2022 và Nghị định 17/2023/NĐ-CP
Định nghĩa tác phẩm phái sinh Liệt kê đóng các loại hình: dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn. Nhấn mạnh bản chất sáng tạo trên cơ sở tác phẩm đã có; mở rộng phạm vi bằng cụm từ "và các chuyển thể khác".
Định nghĩa 7 loại hình cụ thể Chưa được định nghĩa chi tiết trong nghị định hướng dẫn. Điều 7 Nghị định 17/2023/NĐ-CP định nghĩa chi tiết: dịch, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể.
Chế định đồng tác giả Quy định ở cấp nghị định (Nghị định 22/2018/NĐ-CP). Luật hóa tại Khoản 1 Điều 12a; bổ sung điều kiện "với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh".
Chuyển giao quyền đặt tên Quyền đặt tên là quyền nhân thân gắn liền tác giả, tuyệt đối không được chuyển giao. Khoản 1 Điều 19 cho phép tác giả chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên cho bên nhận chuyển giao quyền tài sản.
Bảo vệ toàn vẹn tác phẩm gốc Cấm mọi hành vi cắt xén, xuyên tạc làm phương hại danh dự, uy tín tác giả. Khoản 2 Điều 20 bổ sung ngoại lệ: trường hợp làm tác phẩm phái sinh ảnh hưởng quyền toàn vẹn phải có thỏa thuận bằng văn bản của tác giả.
Đại diện quản lý của Nhà nước Quy định tác phẩm khuyết danh thuộc sở hữu nhà nước. Nhà nước đóng vai trò đại diện quản lý quyền tác giả đối với tác phẩm khuyết danh cho đến khi xác định được danh tính tác giả.
  • Nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh:
    • Quyền nhân thân (Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ, Điều 14 Nghị định 17/2023/NĐ-CP): Quyền đặt tên (cho phép chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên; tác giả dịch không có quyền đặt tên mới cho tác phẩm); Quyền đứng tên (tác giả phái sinh phải nêu tên thật hoặc bút danh của tác giả tác phẩm gốc và không được đặt tên mình ngang hàng với tác giả gốc, kế thừa tinh thần Nghị định 76/CP năm 1996 và Công ước UCC); Quyền công bố tác phẩm (Khoản 3 Điều 19).
    • Bất cập pháp lý phát hiện: Khóa luận chỉ ra Luật năm 2022 chưa có quy định về chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên thứ cấp (khi chủ sở hữu quyền tài sản tiếp tục chuyển nhượng quyền tài sản cho bên thứ ba), gây khó khăn cho việc khai thác thương mại liên tục.

Chương III: Thực tiễn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh tại Việt Nam và một số kiến nghị

Chương III tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.

  • Thực tiễn bảo hộ và tranh chấp (2006–2023): Phân tích các tranh chấp phát sinh trong thực tế, tiêu biểu là tranh chấp đặt lời Việt cho các tác phẩm khí nhạc cổ điển phương Tây (vụ việc "Chat với Mozart" của nhạc sĩ Dương Thụ). Vụ việc này phản ánh khoảng trống pháp lý của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 khi chưa dự liệu hình thức chuyển thể nhạc và chưa làm rõ ranh giới giữa quyền làm tác phẩm phái sinh với quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm gốc.
  • Nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    • Bổ sung quy định điều chỉnh hành vi chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên thứ cấp trong các văn bản hướng dẫn thi hành, quy định rõ quyền của bên nhận chuyển giao tiếp theo đối với tên tác phẩm.
    • Ban hành tiêu chuẩn cụ thể để xác định mức độ biến đổi tác phẩm gốc tại Khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022, phân định rõ giữa quyền phóng tác, cải biên sáng tạo với hành vi xuyên tạc làm phương hại danh dự, uy tín của tác giả gốc.
    • Hoàn thiện cơ chế đại diện quản lý của Nhà nước đối với các tác phẩm khuyết danh và cơ chế thỏa thuận văn bản khi khai thác tác phẩm có nhiều đồng chủ sở hữu.
    • Nâng cao năng lực chuyên môn của các cơ quan quản lý, cơ quan giám định và Tòa án nhân dân trong việc phân định các yếu tố phái sinh và giải quyết tranh chấp quyền tác giả.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên việc tổng hợp và phân tích dữ liệu thực định:

  • Hệ thống hóa toàn bộ các tiêu chí xác định tính nguyên gốc, tính định hình vật chất và điều kiện bảo hộ đối với 7 loại hình tác phẩm phái sinh theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 và Điều 7 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP.
  • Làm rõ cấu trúc phân định quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả phái sinh trong mối tương quan với quyền tác giả của tác phẩm gốc, đặc biệt là nghĩa vụ ghi nhận tên tác giả gốc và giới hạn quyền đặt tên của dịch giả.
  • Chỉ ra 2 bất cập pháp lý cụ thể trong quy định hiện hành: (1) Thiếu vắng quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng quyền đặt tên thứ cấp; (2) Nguy cơ xung đột giữa quyền tài sản của chủ sở hữu và quyền nhân thân của tác giả gốc khi áp dụng quy định thỏa thuận bằng văn bản tại Khoản 2 Điều 20.

Đóng góp của khóa luận so với các nghiên cứu trước đó:

  • Trong khi các công trình tiền nhiệm (như luận văn của Hứa Hải Linh năm 2020 hay Nguyễn Đức Thái năm 2022) chủ yếu dựa trên khung pháp lý của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, khóa luận này là một trong những công trình đầu tiên cập nhật, phân tích trực tiếp các điểm mới của Luật sửa đổi năm 2022 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2023) và Nghị định số 17/2023/NĐ-CP (ban hành ngày 26/04/2023).
  • Cung cấp góc nhìn mới về sự phân tách giữa quyền sở hữu quyền tác giả và quyền đại diện quản lý của Nhà nước đối với tác phẩm khuyết danh, đồng thời kiến nghị giải pháp cụ thể cho chế định chuyển giao quyền sử dụng quyền nhân thân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do tác giả tự xác định trong phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi số liệu và vụ việc thực tiễn chỉ giới hạn khảo sát từ năm 2006 đến năm 2023. Do Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 và Nghị định số 17/2023/NĐ-CP mới có hiệu lực áp dụng từ năm 2023, số lượng bản án, quyết định giải quyết tranh chấp của Tòa án nhân dân liên quan trực tiếp đến các quy định mới này chưa có nhiều để kiểm chứng toàn diện hiệu quả thi hành.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định mới của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 trong các tranh chấp phát sinh trên không gian mạng, các mô hình phái sinh kỹ thuật số đa phương tiện và tác phẩm phái sinh có sự tham gia của công nghệ trí tuệ nhân tạo.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo khoa học và thực tiễn đối với các nhóm đối tượng:

  • Người học và nghiên cứu pháp luật: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học, Pháp luật Kinh tế, Luật Dân sự và Sở hữu trí tuệ có thể sử dụng khóa luận như tài liệu tham khảo để nắm bắt hệ thống khái niệm, điều kiện bảo hộ và cơ chế vận hành của quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh.
  • Người hành nghề luật và cán bộ thực thi: Các luật sư, thẩm phán, chấp hành viên và cán bộ tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả có thể tham khảo phần bình luận, đối chiếu quy định mới tại Chương II và Chương III khi giải quyết các tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, hành vi xâm phạm tính toàn vẹn tác phẩm.
  • Tác giả, dịch giả, đơn vị xuất bản và sản xuất nghệ thuật: Cung cấp cơ sở pháp lý rõ ràng về phạm vi quyền đặt tên, thủ tục thỏa thuận bằng văn bản với tác giả tác phẩm gốc khi thực hiện chuyển thể, cải biên, biên soạn hoặc phóng tác tác phẩm.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Tiểu mục 2.1 và 2.3 thuộc Chương II với bảng đối chiếu quy định mới của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022, Nghị định số 17/2023/NĐ-CP và phân tích chuyên sâu về quyền đặt tên, quyền đứng tên của tác giả phái sinh.

Câu hỏi thường gặp

1. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 đã bổ sung điểm mới nào trong định nghĩa tác phẩm phái sinh so với luật cũ?

Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 đã nhấn mạnh bản chất "tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có", đồng thời mở rộng quy định bằng việc bổ sung cụm từ "và các chuyển thể khác", thay vì chỉ liệt kê một danh sách đóng các loại hình như tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

2. Theo quy định mới tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022, khi nào việc làm tác phẩm phái sinh bắt buộc phải có thỏa thuận bằng văn bản của tác giả tác phẩm gốc?

Căn cứ Khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022, khi làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng đến quyền nhân thân của tác giả tác phẩm gốc (cụ thể là quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác xuyên tạc, cắt xén làm phương hại danh dự, uy tín tác giả) thì bắt buộc phải có văn bản đồng ý của tác giả tác phẩm gốc.

3. Tác giả của tác phẩm dịch có được quyền đặt tên mới cho tác phẩm dịch của mình không?

Theo phân tích của khóa luận, tác giả tác phẩm dịch không có quyền đặt tên cho tác phẩm dịch. Bản chất của tác phẩm dịch là chuyển tải nội dung của tác phẩm gốc sang một ngôn ngữ khác mà không đóng góp mới về mặt nội dung, do đó tác giả dịch phải giữ nguyên tên tác phẩm gốc để tránh xâm phạm quyền nhân thân của tác giả tác phẩm gốc.

4. Bất cập pháp lý nào được chỉ ra liên quan đến quy định chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022?

Mặc dù Khoản 1 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 cho phép tác giả chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên cho bên nhận chuyển giao quyền tài sản, nhưng pháp luật hiện hành chưa có quy định điều chỉnh việc chuyển nhượng quyền sử dụng này cho bên thứ ba (chuyển nhượng thứ cấp), dẫn đến vướng mắc khi quyền tài sản của tác phẩm được mua bán qua nhiều chủ thể khác nhau.

5. Cá nhân tham gia hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho tác giả có được công nhận là đồng tác giả không?

Căn cứ Khoản 1 Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022, đồng tác giả phải là những người cùng trực tiếp sáng tạo với chủ ý kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh. Người chỉ hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu không được coi là tác giả hay đồng tác giả của tác phẩm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Phương Linh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá sâu sắc thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh trong bối cảnh thi hành Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 và Nghị định số 17/2023/NĐ-CP. Công trình chỉ ra những điểm tiến bộ về mở rộng loại hình chuyển thể, cơ chế chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên, đồng thời phân tích xác đáng các bất cập về chuyển nhượng thứ cấp và ranh giới quyền nhân thân. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi được đề xuất có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp, nghiên cứu học thuật và thực tiễn xét xử tranh chấp sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.