Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đa dạng sinh học và pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học và thực tiễn áp dụng tại Vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ PHÁP LUẬT BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC 1. 1 Đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học 1.1 Khái niệm đa dạng sinh học Năm 1989, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế (WWF) đã định nghĩa: “ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những HST vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường’’. ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: Đa dạng nguồn gen, đa dạng loài và đa dạng HST. Theo Công ước đa dạng sinh học năm 1992 thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vật sống gồm các HST trên cạn, HST biển, các HST nước ngọt, và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là một bộ phận.
ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong một loài (đa dạng gen) hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa dạng giữa các loài (đa dạng loài) và sự đa dạng hệ sinh thái. Nói cách khác ĐDSH là sự đa dạng của sự sống ở các cấp độ và các tổ hợp [36, tr. Có thể coi ĐDSH là khái niệm bao hàm đa dạng HST (số lượng các loài trong quần xã), đa dạng loài và đa dạng di truyền (tức là sự phong phú về gen). Đa dạng HST là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi quá trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi trong từng hệ sinh thái.
Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một khu vực nhất định tại một vùng nào đó. Đa dạng di truyền là tất cả các gen di truyền khác nhau của tất cả các cá thể thực vật, động vật, nấm, và vi sinh vật. Đa dạng di truyền tồn tại trong một loài và giữa các loài khác nhau. Đa dạng di truyền là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể trong cùng một loài và giữa các loài khác nhau; là sự đa dạng về gen có thể di truyền được trong một quần thể hoặc giữa các quần thể.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong Luật ĐDSH của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, định nghĩa: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen , loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên. Gen là mô ̣t đơn vi ̣di truyề n , mô ̣t đoa ̣n của vâ ̣t chất di truyề n quy đinh ̣ các đă ̣c tính cu ̣ thể của sinh vâ ̣t. Hệ sinh thái là quầ n xã sinh vật và các yếu tố phi sinh vâ ̣t của mô ̣t khu vực điạ lý nhấ t đinh ̣ , có tác động qua lại và trao đổi vật chất với nhau. Hê ̣ sinh thái tự nhiên là hê ̣ sinh thái hình thành , phát triển theo quy luật tự nhiên , vẫn còn gi ữ được các nét hoang sơ.
Hê ̣ sinh thái tự nhiên mới là hê ̣ sinh thái mới hin ̀ h thành và phát triển trên vùng bãi bồi tại cửa sông ven biển , vùng có phù sa bồi đắp và các vùng đất khác” [30, Điều 3]. Ngoài ra ĐDSH còn được định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2005 như sau: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái” [29, Điều 3].2 Bảo tồn đa dạng sinh học Bảo tồn ĐDSH là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các HST nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Có nhiều phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH. Một số phương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, các dòng di truyền hay các sinh cảnh.
Một số khác được sử dụng để sản xuất một cách bền vững các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật,…[36, tr. Có thể phân chia các phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau: Một là bảo tồn tại chỗ (Bảo tồn In situ): Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên [36, tr. Tùy theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi. Thông thường bảo tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hai là bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ conservation): Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng [36, tr. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (1) nơi sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng. Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, các ngân hàng giống… Ba là phục hồi (Rehabilitation): Bao gồm các biện pháp để dẫn đến bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn chuyển chỗ [36, tr. Các biện pháp này được sử dụng để phục hồi lại các loài, các quần xã, sinh cảnh, các quá trình sinh thái.
Việc hồi phục sinh thái bao gồm một số công việc như phục hồi lại các HST tại những vùng đất đã bị suy thoái bằng cách nuôi trồng lại các loài bản địa chính, tạo lại các quá trình sinh thái, tạo lại vòng tuần hoàn vật chất, chế độ thủy văn, tuy nhiên không phải là để sử dụng cho công việc vui chơi, giải trí hay phải phục hồi đủ các thành phần động thực vật như trước đã từng có. Một trong những mục tiêu quan trọng trong việc bảo tồn sinh học là bảo vệ các đại diện của HST và các thành phần của ĐDSH. Ngoài việc xây dựng các khu bảo tồn cũng cần thiết phải giữ gìn các thành phần của sinh cảnh hay các hành lang còn sót lại trong khu vực mà con người đã làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, và bảo vệ các khu vực được xây dựng để thực hiện chức năng sinh thái đặc trưng quan trọng cho công tác bảo tồn ĐDSH.3 Ý nghĩa của đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học ĐDSH là yếu tố đặc biệt quan trọng, sống còn với phát triển bền vững, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người trong quá khứ, hiện tại và tương lai. ĐDSH có những giá trị kinh tế, giá trị môi trường, giá trị cuộc sống to lớn mà cho đến một vài thế kỷ gần đây chúng ta mới nhận thức được một cách đầy đủ [42].
Thứ nhất, về mặt môi trường, ĐDSH có khả năng điều hoà khí hậu, điều tiết mọi biến động của môi trường do thiên nhiên tạo ra và bảo vệ môi trường trước những biến 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chu kỳ quang hợp hay đồng hoá chất diệp lục và việc chuyển hoá các chất vô cơ thành hữu cơ của thực vật trong thiên nhiên đã tạo nên sự sống cho tất cả sinh vật trên Trái đất, trong đó có con người. Những khu rừng được mệnh danh “lá phổi thế giới” là bộ máy tự nhiên khổng lồ lọc khí cacbonic và tạo ôxy để có môi trường trong lành cho con người hô hấp. Các hệ thực vật có chức năng bảo vệ vùng đầu nguồn, vùng ven biển, bảo vệ đất trong việc chắn sóng, bão, lũ, điều chỉnh và ổn định đất trên các vùng đất dốc làm giảm tác hại của lũ lụt và xói mòn đất.
Thứ hai, về kinh tế, ĐDSH là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nguyên liệu chế biến thuốc, nước và nguyên liệu trong sản xuất cho con người. Giá trị trực tiếp và quan trọng nhất của các loài đối với con người là dùng làm thức ăn, rất nhiều loài động, thực vật có thể ăn được và một số loài đã được đưa vào nuôi trồng để cung cấp thức ăn cho con người. Các loại dược phẩm có nguồn gốc tự nhiên có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ sức khoẻ trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt ở các nước kém phát triển việc chăm sóc sức khoẻ, thuốc chữa bệnh chủ yếu bằng dược phẩm truyền thống (nước ta gọi là đông y, thuốc nam). Ngoài ra, ĐDSH còn mang lại những giá trị vật chất khác từ các hệ sinh thái tự nhiên hoặc bán tự nhiên, như là nơi giải trí, du lịch, giáo dục, nghiên cứu,… ĐDSH cũng phản ánh sự phong phú cùng những nét đẹp của thiên nhiên dành cho một quốc gia [42].
Tuy nhiên, sự ĐDSH tỷ lệ nghịch với sự phát triển và tiến hoá của loài người. Cùng với tiến trình phát triển kinh tế, xã hội và để đáp ứng nhu cầu của mình, con người đã áp dụng khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại vào khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích của con người, để cải tiến cuộc sống, thậm chí con người còn điều khiển tự nhiên, làm thay đổi tự nhiên. Do vậy, các HST đều chịu tác động của loài người, bị thay đổi, và tiến tới bị huỷ diệt. Khi ĐDSH bị xâm phạm thì sự tồn tại của con người trên Trái đất sẽ bị đe doạ.
Con người sẽ bị cạn dần nguồn thức ăn, thuốc chữa bệnh, ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh [42]… ĐDSH đang bị suy 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giảm với tốc độ nhanh, thể hiện sự suy giảm và tuyệt chủng của một số loài. Do vậy, năm 1948 tại Fontainebleau (Pháp), Liên hợp quốc đã thành lập Tổ chức bảo vệ thiên nhiên quốc tế, viết tắt là IUPN (International Union for the Protection of Nature) nhằm bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên.